Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa lư Ninh Bình

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI HOA LƯ VÀ YÊU CẦU BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HIỆN NAY

Thứ tư, 17/6/2026 , Đã xem: 189
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 40 điểm ( 8 đánh giá )

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI HOA LƯ VÀ YÊU CẦU

BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HIỆN NAY

 

1. Mở đầu

Lễ hội Hoa Lư là một lễ hội lâu đời, giàu giá trị lịch sử - văn hoá, gắn liền cuộc đời, sự nghiệp và truyền thuyết về vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành, thể hiện truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta. Thông qua lễ hội các giá trị đạo đức, tư tưởng, tâm linh, nghệ thuật, lịch sử... của người dân Trường Yên (Phường Tây Hoa Lư ngày nay) nói riêng và nhân dân Ninh Bình nói chung  được gìn giữ và phát huy.

Lễ hội Hoa Lư vừa là một sinh hoạt văn hóa dân gian, vừa là không gian linh thiêng gắn với ký ức lịch sử của dân tộc, nơi tái hiện một giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là dịp để cộng đồng thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, củng cố tinh thần đoàn kết, hun đúc lòng tự hào dân tộc và giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ.                                                                                                                                        

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội, lễ hội Hoa Lư đã có những biến đổi nhất định ở nhiều phương diện khác nhau. Sự biến đổi này một mặt làm giàu thêm các giá trị mới cho lễ hội, mặt khác lại đặt lễ hội vào nguy cơ mất đi các giá trị truyền thống. Do vậy, cần phải nhìn nhận khách quan sự biến đổi của lễ hội Hoa Lư để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội trong bối cảnh hiện nay.

2. Nội dung

2.1.Nguồn gốc Lễ hội Hoa Lư

Lễ hội Hoa Lư diễn ra tại Cố đô Hoa Lư (phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) nơi tọa lạc hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Đây là không gian lịch sử - văn hóa đặc biệt, gắn liền với kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt. Trước đây, lễ hội còn có tên gọi là lễ hội Trường Yên.

Sau khi được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014, giá trị và vị thế của Lễ hội Hoa Lư ngày càng được khẳng định. Quy mô tổ chức, sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng của lễ hội không ngừng được mở rộng, qua đó góp phần nâng cao vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa đương đại và quảng bá các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Cố đô.

Những giá trị ấy bắt nguồn từ truyền thống lịch sử lâu đời và gắn liền với công lao của các bậc Tiên đế triều Đinh - Tiền Lê cùng các vị khai quốc công thần có công dựng nước và giữ nước. Đinh Bộ Lĩnh (924-979), quê tại làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình), là người có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ông là con trai của Đinh Công Trứ - giữ chức thứ sử Hoan Châu (Nghệ An) dưới thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Sau khi cha mất, Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ trở về quê, sống nương nhờ người chú Đinh Thúc Dự. Năm 944, trong bối cảnh đất nước rơi vào tình trạng phân liệt với loạn 12 sứ quân, ông đã chiêu mộ lực lượng, tập hợp hào kiệt, từng bước dẹp loạn và thống nhất giang sơn.

Năm 968, sau khi thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại sự kiện này như sau: “Mậu Thìn năm thứ 1 (968) (Tống, Khai Bảo năm thứ 1). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi[1] Hai năm sau khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu Thái Bình, xây dựng bộ máy chính quyền thống nhất từ trung ương tới địa phương. Sự thành lập của triều Đinh đứng đầu là Đinh Tiên Hoàng chính là biểu tượng cho khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc ta, minh chứng cho ý chí kiên cường của nhiều thế hệ, mốc son chói lọi trong trang sử nước nhà.

Lê Hoàn (941-1005) quê ở Châu Ái (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Dưới triều Đinh, ông giữ chức Thập đạo tướng quân, thống lĩnh 10 đạo quân. Năm  980, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế lập ra triều Tiền Lê, kế tục sự nghiệp triều Đinh. Lê Hoàn là vị anh hùng dân tộc có công kháng Tống, bình Chiêm, phát triển đất nước ở các lĩnh vực: văn hóa, chính trị quân sự, ngoại giao…

Năm 1010, vua Lý Công Uẩn ban Thiên đô chiếu, dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (nay là Hà Nội). Thế kỷ XVII, trên nền cung điện cũ, nhân dân đã xây dựng các công trình thờ tự nhằm tưởng niệm công lao của vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Lễ hội Hoa Lư ra đời nhằm tưởng nhớ công lao, sự nghiệp của Tiên đế và các bậc khai quốc công thần của hai vương triều. Trải qua các giai đoạn lịch sử, sự hình thành lễ hội vừa là hoạt động tín ngưỡng mang tính tưởng niệm, vừa trở thành một thiết chế văn hóa quan trọng, góp phần tái hiện lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước và khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

2.2. Một số biến đổi của lễ hội Hoa Lư hiện nay

Phần lớn các lễ hội ở nước ta là lễ hội truyền thống, hình thành và phát triển trong xã hội truyền thống của một cộng đồng. Tác giả Ngô Đức Thịnh nhận định “Trong lịch sử hàng mấy ngàn năm, lễ hội hình thành và biến đổi dưới những tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử. Đồng thời nó là tấm gương phản ánh trung thực hoàn cảnh và lối sống của dân tộc[2] Điều này dẫn tới trong quá trình trao truyền của cộng đng, lễ hội được tái tạo không ngừng để thích nghi với môi trường, sự biến đổi trong các lễ hội truyền thống hiện nay là một xu hướng tất yếu, phản ánh quy luật khách quan của xã hội. Dưới đây là một số biến đổi của lễ hội Hoa Lư hiện nay.

* Biến đổi thời gian, thời điểm diễn ra lễ hội

Có hai xu hướng chính trong các lễ hội truyền thống hiện nay, một là thời gian tổ chức lễ hội bị rút ngắn đi, hai là giữ nguyên hoặc kéo dài. Trong lịch sử, thời gian 

tổ chức lễ hội Hoa Lư đã được thay đổi nhiều lần. Theo cuốn Từ điển lễ tục Việt Nam thì các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đều lấy ngày 16-8 âm lịch là ngày kỵ của vua Đinh làm ngày lễ tế. Đến đời Thành Thái, nhà vua bãi bỏ lễ tế này, sang đời Khải Định thì khôi phục lại nhưng đổi sang ngày 10-3, ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế. Trong cuốn “Cửu khúc” phần Hán văn, lễ hội được tổ chức vào tháng 10 âm lịch (Thập nguyệt kỳ phúc cửu khúc nghi tiết, nghĩa là, Nghi tiết tế cửu khúc cầu phúc tháng Mười)[3]. Trong Nếp cũ: Hội hè đình đám của Toan Ánh lại viết : làng Trường Yên tỉnh Ninh Bình thờ vua Đinh Tiên Hoàng vào ngày 20 tháng 2 [4]. Trang nhất báo L’Anenir du Tonkin, 18/8/1940 giới thiệu về Lễ hội Trường Yên và lễ “quốc tế” tưởng niệm vua Đinh Tiên Hoàng tổ chức tháng Ba (âm lịch) năm 1940, được khôi phục sau 30 năm tạm ngưng. Cũng trong cuốn 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, tác giả chỉ ra “Dưới thời thuộc Pháp, theo ký ức của các cụ già ở vùng Hoa Lư, thì hội xưa nhất mở vào những năm 20 đầu thế kỷ này. Sau đó bằng đi một thời gian dài, đến năm 1941 và 1943, hội mới được mở lại. Tiếp đến là những năm chiến tranh khốc liệt, tình hình sinh hoạt hội lễ, trong đó có hội Trường Yên, lắng xuống[5]. Sau đổi mới, lễ hội lại được tổ chức trở lại, có lẽ từ khoảng thời gian này lễ hội bắt đầu được tổ chức từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng Ba âm lịch. Sau đó, với lý do ngày kỵ của vua Lê cũng vào tháng 3 âm lịch năm Ất Tỵ (1005), trùng với tháng vua Đinh đăng quang ngôi Hoàng đế vào năm Mậu Thìn (968). Từ năm 2023, lễ hội tổ chức lùi một ngày tức từ mùng 9 đến ngày 11 tháng Ba âm lịch.

Như vậy, có thể thấy thời gian tổ chức Lễ hội Hoa Lư đã có nhiều thay đổi qua các thời kỳ lịch sử. Nếu như trước đây lễ hội chủ yếu gắn với ngày kỵ của vua Đinh Tiên Hoàng thì hiện nay thời gian tổ chức được lựa chọn vào tháng Ba âm lịch, gắn với các sự kiện quan trọng của cả hai triều Đinh và Tiền Lê. Sự thay đổi này phản ánh quá trình phát triển của lễ hội.

* Biến đổi không gian, địa điểm tổ chức lễ hội

Cũng như sự thay đổi thời gian tổ chức lễ hội, hiện nay không gian tổ chức cũng có nhiều biến đổi so với không gian truyền thống. Lễ hội Hoa Lư vốn có tên gọi xưaLễ hội Trường Yên, bởi lẽ đây là lễ hội ra đời từ vùng đất Trường Yên và mọi hoạt động của lễ hội chỉ diễn ra xung quanh làng Trường Yên.

Năm 2000, không gian thờ cúng và tổ chức Lễ hội Hoa Lư được mở rộng với các dấu mốc đặc biệt quan trọng. Nhân dịp kỷ niệm 990 năm Hoa Lư - Thăng Long - Hà Nội để thể hiện lòng biết ơn và tri ân công đức của các vị Hoàng đế có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữa nước, các di tích thờ cúng những nhân vật tiêu biểu của thời Đinh - Tiền Lê trên địa bàn tỉnh như đền vua Đinh (xã Đại Hoàng), đền Thánh Nguyễn (xã Đại Hoàng), đền Đồng Bến (phường Hoa Lư), đền Tam Thánh và chùa Yên Lữ (xã Khánh An)… tập trung rước thần về dự lễ hội Cố đô Hoa Lư. Kể từ đó đến nay các di tích thường niên tổ chức, khi giã hội kiệu thần được rước về di tích phụng thờ như cũ.

Năm 2014, cùng với việc được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Lễ hội Hoa Lư bước sang một giai đoạn phát triển mới với quy mô và sức lan tỏa ngày càng rộng lớn. Lễ khai mạc được tổ chức tại khu vực sân phía trước hai đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành.

Năm 2025, lễ khai mạc Lễ hội Hoa Lư được tổ chức tại Quảng trường Đinh Tiên Hoàng đế, trung tâm tỉnh Ninh Bình. Năm 2026, cùng với sự thay đổi về địa giới hành chính và mở rộng không gian phát triển của tỉnh Ninh Bình, lễ khai mạc tiếp tục được tổ chức tại Quảng trường Đinh Tiên Hoàng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền, quảng bá và tăng cường sự gắn kết cộng đồng. Qua đó, không gian tổ chức Lễ hội Hoa Lư ngày càng được mở rộng, từ phạm vi làng xã truyền thống đến quy mô rộng lớn hơn.

Khai mạc Lễ hội Hoa Lư tại Quảng trường Đinh Tiên Hoàng đế (phường Hoa Lư)

* Biến đổi về vai trò cộng đồng trong Lễ hội

Trước kia, các triều đại phong kiến tham gia vào việc tổ chức, quản lý lễ hội bằng việc định ra các điển chế tế tự, cử quan lại về tế lễ, đồng thời phê chuẩn cho người dân xã Trường Yên thượng, Trường Yên hạ làm phu quét dọn, phụng sự hương khói. Mặc dù vậy, người dân Trường Yên vẫn là chủ thể chính trong lễ hội. Để chuẩn bị chu đáo kịp phục vụ lễ hội, nhân dân Trường Yên cùng nhau tiến hành tổng vệ sinh trên toàn bộ khu vực xung quanh di tích, nơi diễn ra lễ hội, treo cờ Thái Bình trên núi Mã Yên  và núi Cột cờ, xung quanh sân lễ hội và dọc hai bên đường lối vào khu di tích Cố đô Hoa Lư. Lễ vật tiến vua như mâm xôi, thủ lợn, hoa, quả, hương đăng được chuẩn bị chu đáo từ trước, người được chọn nuôi lợn tế vua hết sức cẩn thận trong việc chăm sóc lợn: chuồng nuôi lợn lúc nào cũng phải sạch, tắm cho lợn phải dùng nước giếng khơi, thức ăn phải tinh khiết.

   Xôi biện cỗ để tế vua cũng phải thật trắng, đều hạt, không lẫn gạo tẻ và được cấy ở chân ruộng cao để tránh ô uế. Người được giao nhiệm vụ cấy lúa nấu xôi, cũng phải thực hiện quy tắc tuyển chọn như tuyển chọn người nuôi lợn”[6]

Lễ phẩm dâng đức vua trong lễ hội Hoa Lư là sản phẩm chủ yếu do chính cộng đồng cư dân làng Trường Yên chăn nuôi, trồng cấy và sản xuất.

Ngày nay, công tác chuẩn bị lễ hội Hoa Lư đã có sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, ban, ngành chức năng và cộng đồng địa phương. Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng và tổ chức tổng thể, trong khi cộng đồng cư dân Trường Yên vẫn là chủ thể trực tiếp thực hành các nghi lễ truyền thống, đặc biệt là nghi thức tế lễ và tiến phẩm.

* Biến đổi về việc thực hành nghi thức, nghi lễ

Trải qua quá trình hình thành và phát triển nhiều nghi thức truyền thống vẫn được lưu truyền và thực hành thường xuyên trong lễ hội hàng năm. Tuy nhiên, một số nghi lễ đã có sự điều chỉnh về hình thức hoặc không còn được tổ chức trong khuôn khổ lễ hội như trước đây, mà được chuyển hóa phù hợp với các hoạt động văn hóa - thể thao đương đại. Tiêu biểu như nghi thức rước lửa, trước đây là một nghi lễ quan trọng trong những kỳ lễ hội chính, hiện nay được lồng ghép trong một số hoạt động thể thao cấp tỉnh, phường, xã và nghành. Sự chuyển đổi này thể hiện quá trình thích ứng của thực hành nghi lễ truyền thống trong bối cảnh mới, đồng thời tiếp tục gìn giữ và phát huy ý nghĩa biểu trưng về tinh thần cộng đồng và khuyến khích rèn luyện thể chất.

Theo truyền thống, Lễ hội Hoa Lư có nghi thức tế Ca Cửu Khúc gồm chín khúc ca dùng để ca ngợi công đức vua Đinh, được thực hành tại đền thờ vua Đinh. Tương tự, nghi thức Tế Cửu Chương là những khúc ca ca ngợi công đức vua Lê, được tổ chức tại đền thờ vua Lê.

Theo lời kể của các bậc cao niên địa phương, do điều kiện mưu sinh, nhiều nam giới phải đi làm ăn xa, trong khi phụ nữ ở lại chủ yếu đảm đương công việc gia đình và cộng đồng, nên trong một thời gian dài, các nghi thức tế lễ này bị gián đoạn.

Từ năm 2024, dưới sự quan tâm và phối hợp nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn của ngành văn hóa tỉnh Ninh Bình, nghi thức Ca Cửu Khúc đã được phục dựng trở lại. Những năm gần đây, Lễ hội Hoa Lư cũng chú trọng hơn đến việc gìn giữ và phát huy giá trị của nghi thức này. Trong không gian linh thiêng tại đền vua Đinh, đội tế Trường Yên tiếp tục thực hành nghi lễ tế Cửu Khúc, góp phần duy trì giá trị truyền thống của lễ hội.

Tế Cửu Khúc tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

* Biến đổi trò chơi, trò diễn

Phần hội của Lễ hội Hoa Lư, bên cạnh các trò chơi dân gian truyền thống, còn được mở rộng với nhiều hoạt động mang tính hiện đại như trưng bày, triển lãm giới thiệu về Cố đô Hoa Lư và du lịch Ninh Bình. Đồng thời, các gian hàng cũng giới thiệu sản phẩm thủ công, mỹ nghệ đặc trưng của các làng nghề địa phương.

Những hoạt động này góp phần làm phong phú không gian lễ hội, giúp lễ hội gần gũi hơn với đời sống đương đại và thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, đặc biệt là giới trẻ.

Bên cạnh đó, lễ hội cũng cần tiếp tục chú trọng công tác bảo tồn, định hướng phục hồi và phát huy các trò chơi dân gian, trò diễn truyền thống, nhằm tăng tính hấp dẫn và thu hút sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Qua đó góp phần giáo dục tình yêu quê hương, đất nước và củng cố ý thức hướng về cội nguồn.

Thi bắn nỏ trong Lễ hội Hoa Lư

Trò chơi dân gian đập niêu đất tại Lễ hội Hoa Lư

Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP” tại Lễ hội Hoa Lư

2.3. Yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị di sản hiện nay

Trên cơ sở nguồn gốc lịch sử và giá trị đặc biệt của Lễ hội Hoa Lư, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa mang ý nghĩa về lịch sử - văn hóa, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Trước hết, yêu cầu quan trọng hàng đầu là giữ gìn giá trị cốt lõi của lễ hội, đặc biệt là hệ thống nghi lễ truyền thống. Đây là “hạt nhân” tạo nên bản sắc riêng của Lễ hội Hoa Lư, đồng thời cũng là yếu tố phân biệt lễ hội với các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện đại khác.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương trong quá trình tổ chức và thực hành lễ hội. Cộng đồng cư dân Trường Yên và vùng phụ cận chính là người gìn giữ, thực hành và truyền trao các giá trị lễ hội qua nhiều thế hệ. Do đó, mọi hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội cần đặt người dân vào vị trí trung tâm, tạo điều kiện để họ tham gia tích cực chủ động.

Một yêu cầu quan trọng khác là kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển du lịch văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, lễ hội Hoa Lư vừa mang giá trị văn hóa - tâm linh, vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, phát triển du lịch cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh thương mại hóa quá mức, làm suy giảm không gian linh thiêng và tính trang nghiêm của lễ hội. Phát triển du lịch bền vững phải dựa trên nền tảng tôn trọng di sản, lấy giá trị văn hóa làm trung tâm.

Cần tăng cường công tác nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa và số hóa di sản Lễ hội Hoa Lư. Việc lưu giữ đầy đủ các tư liệu về lịch sử, nghi lễ, trò chơi dân gian, tri thức dân gian… sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn lâu dài và phục vụ công tác giáo dục, truyền thông. Đây cũng là cơ sở để phục dựng các giá trị đã bị mai một hoặc biến đổi theo thời gian.

Ngoài ra, công tác giáo dục và tuyên truyền về giá trị lịch sử - văn hóa của lễ hội cần được đẩy mạnh trong nhà trường, cộng đồng và trên các phương tiện truyền thông.

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý, quảng bá và giới thiệu lễ hội cũng là một xu hướng cần thiết. Công nghệ số góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận của di sản hỗ trợ hiệu quả trong công tác lưu trữ, nghiên cứu và giáo dục di sản.

3. Kết Luận

Lễ hội Hoa Lư, từ một lễ hội gắn với không gian làng quê truyền thống, đến nay đã mở rộng về quy mô, nội dung và phạm vi ảnh hưởng, đồng thời nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của các cấp, ngành. Sự phát triển này phản ánh xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện đại, khi lễ hội không chỉ là hoạt động văn hóa - tín ngưỡng mà còn gắn với phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh địa phương.

Cùng với sự thay đổi về tổ chức, không gian và hình thức thực hành, công tác nghiên cứu và quản lý lễ hội ngày càng được chú trọng nhằm đảm bảo tổ chức an toàn, hiệu quả, đồng thời giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa cốt lõi.

Dù trải qua nhiều biến đổi theo thời gian, lễ hội Hoa Lư vẫn là một biểu tượng văn hóa tiêu biểu, mang giá trị lịch sử, tâm linh và nghệ thuật đặc sắc. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội cần được thực hiện theo hướng hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và phục vụ phát triển bền vững.

                                                                     Mai Uyên - Thu Hiền - Dương Thơm

 

[1] Đại Việt sử Ký toàn thư, tập 1, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1983, tr. 254

[2] Ngô Đức Thịnh (2018), Tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr. 307

[3] Nguyễn Đức Long (2014), Lý lịch lễ hội, tr. 3

[4] Toan Ánh (1974), Hội hè đình đám, Nhà xuất bản Nam Chi Tùng T, tr. 12

[5] Thạch Phương, Lê Trung Vũ (2015), 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.125

[6]  Nguyễn Đức Long (2014), Lý lịch lễ hội, tr. 5

Danh sách liên quan