Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa lư Ninh Bình

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH KHU DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ

Thứ sáu, 27/6/2025 , Đã xem: 1119
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 10 điểm ( 2 đánh giá )

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH KHU DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ

1. Địa danh là một bộ phận đặc biệt trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ. Nó được dùng để đặt tên cho các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất. Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, địa danh luôn chịu sự tác động của quy luật ngôn ngữ. Địa danh không chỉ là đối tượng nghiên cứu của riêng ngành ngôn ngữ học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như lịch sử, địa lý, khảo cổ, văn hóa… Nghiên cứu địa danh góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại giữa địa danh với văn hóa, lịch sử, địa lý… của vùng đất mà nó chào đời. Có thể nói, địa danh là thấu kính hội tụ lịch sử và văn hóa dân tộc. Thông qua việc phân tích các yếu tố ngôn ngữ, người nghiên cứu có thể khai thác những đặc điểm ý nghĩa đầy thú vị của địa danh, từ đó “bóc tách” được các lớp văn hóa ẩn tàng trong đó.

Cố đô Hoa Lư là kinh đô của Việt Nam giai đoạn 968 - 1010. Đây là kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam ghi lại các dấu ấn lịch sử quan trọng của dân tộc: thống nhất giang sơn, kháng Tống - dẹp Chiêm và là nơi phát tích của quá trình định đô ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội. Cố đô Hoa Lư hiện nay thuộc địa phận xã Trường Yên (thành phố Hoa Lư) được nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xếp hạng là di tích Quốc gia đặc biệt năm 2012. Đến nay, nhân dân Trường Yên, Ninh Bình vẫn còn lưu truyền nhiều câu chuyện dân gian về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử thời Đinh - Tiền Lê và vẫn hiện hữu các địa danh, đặc biệt là các địa danh lịch sử liên quan đến thời kỳ này. Nghiên cứu địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư trong mối tương quan với các ngành khoa học khác, đặc biệt là dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa sẽ góp phần phác thảo nên bức tranh toàn cảnh về vùng đất nơi đây với những đặc trưng văn hóa riêng biệt.

2. Qua quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin từ các nguồn tư liệu thành văn cũng như nguồn tư liệu điền dã..., chúng tôi tiến hành nghiên cứu các địa danh chỉ địa hình tự nhiên (sông, núi, hang, động...), địa danh chỉ công trình xây dựng (đền, chùa, lăng, miếu, đình, phủ, cầu), địa danh chỉ đơn vị hành chính (thôn). Chúng tôi lựa chọn các địa danh này vì sông núi là linh hồn của mỗi vùng đất, thôn xóm là nền tảng của văn hóa Việt nên tên gọi của chúng có thể được xem như một bảo tàng lưu giữ những dấu ấn lịch sử, những nét văn hóa đáng tự hào của người Việt; các địa danh gồm đền, phủ, chùa, lăng, miếu, đình là những địa danh phản ánh nét riêng biệt, thể hiện rõ đời sống tinh thần của người dân khu di tích Cố đô Hoa Lư. Căn cứ vào các địa danh khảo sát, chúng ta có được bức tranh địa danh sinh động, phản ánh đặc trưng địa hình, địa vật của không gian văn hóa; phản ánh tâm lý, tín ngưỡng của chủ thể văn hóa và phản ánh các sự kiện lịch sử nơi đây.

2.1. Dấu ấn văn hóa trong địa danh thể hiện qua không gian văn hóa

Địa danh chứa đựng nhiều phương diện văn hóa khác nhau trong đó có không gian văn hóa. Không gian văn hóa được thể hiện qua các khía cạnh như: đặc điểm địa hình tự nhiên, thế giới động vật, thực vật... gắn với vùng đất chứa địa danh.

2.1.1. Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình tự nhiên

* Thể hiện qua thành tố chung trong phức thể địa danh

Khu di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư hiện nay là một trong ba vùng lõi thuộc Quần thể danh thắng Tràng An. Khu di tích bao gồm: vùng bảo vệ đặc biệt gồm toàn bộ khu vực nằm trong Kinh thành Hoa Lư; vùng đệm gồm toàn cảnh hai bên sông Sào Khê và khu dân cư một số thôn của xã Trường Yên; một số di tích liên quan trực tiếp đến nơi đây. Kinh đô Hoa Lư xưa có diện tích trải rộng khoảng 300 ha, nằm gọn trong địa phận xã Trường Yên ngày nay. Trường Yên là xã thuộc vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Vùng núi đá vôi (có diện tích 960 ha) tập trung nhiều ở phía tây và phía nam của xã. Do vậy, kinh đô Hoa Lư xưa được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung. “Khác với mọi đô thành đã xây dựng trên đất nước ta, thành Hoa Lư gồm những dãy núi đá vôi và các tường thành nhân tạo đan xen, nối liền nhau, nhấp nhô tạo nên một đô thành độc đáo mà không nơi nào có được. Vua Đinh Tiên Hoàng đã biết khai thác triệt để thiên nhiên để phục vụ cho con người. Lối kiến trúc này đã tiết kiệm tối đa sức người, sức của. Chỉ cần bịt kín các vách núi, nghĩa là đắp thêm những tường thành nhân tạo để nối các dãy núi lại với nhau là có những vòng thành vô cùng kỳ vĩ và kiên cố. Chiều dài của các núi tạo nên thành thiên nhiên khoảng 8 km” [1, tr.12]. Tường thành thiên nhiên ấy làm cho Kinh đô Hoa Lư bề thế, hoành tráng. Vì thế, những dãy núi lớn ở kinh đô Hoa Lư có vai trò rất quan trọng. Ngày nay, những ngọn núi này vẫn còn hiện diện nơi đây. Do vậy, bức tranh địa hình tự nhiên khu di tích Cố đô Hoa Lư được phác thảo khá rõ nét, sinh động qua các địa danh.

Tính chất địa hình đặc biệt này làm cho khu di tích Cố đô Hoa Lư trở thành khu vực có cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, một vùng thắng cảnh nổi tiếng. Nơi đây có nhiều núi đá hình thù kỳ thú như núi Cột Cờ, núi Con Cá, núi Con Tôm, núi Rùa, núi Hổ, núi Ông Trạng, núi Hòm Sách…; có nhiều hang động đẹp như hang Quàn, hang Tối, hang Muối… Trong đó, chúng ta không thể không kể đến hang Luồn (Xuyên Thủy Động), động Am Tiên. Phần lớn khu vực động Am Tiên là một thung lũng ngập nước được bao bọc bởi những vách núi đá. Du khách tìm đến nơi đây không chỉ bởi những giá trị lịch sử mà còn bị mê hoặc bởi vẻ đẹp tiên cảnh với những nét đẹp tự nhiên được ví von là Tuyệt tình cốc. Hang Luồn cũng mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí không chỉ bởi là một hang động đá vôi thông thường mà còn là một khu rừng nguyên sinh thu nhỏ với hệ sinh thái đa dạng, phong phú và được ví như “vịnh Hạ Long cạn”… Vẻ đẹp của bức tranh “sơn thủy hữu tình” nơi đây đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho tao nhân mặc khách ghé thăm.

Có thể thấy, thành tố chung của địa danh thường phản ánh một đặc trưng địa lý ở một vùng lãnh thổ nhất định. Với 76 thành tố chung được thống kê và phân loại theo các loại địa hình tự nhiên ở khu di tích Cố đô Hoa Lư (gồm “núi”, “hang”, “động”), chúng ta thấy được bức tranh địa danh phản ánh đặc trưng địa hình địa vật của không gian văn hóa nơi đây. Trong đó, nổi bật nhất là sự phân bố đối tượng địa lý “núi” với 55 địa danh. Số lượng địa danh như thế đã đủ nói lên mức độ đậm nét dấu vết văn hóa núi. Đặc trưng này đã làm nổi bật sự riêng biệt của vùng đất khu di tích Cố đô Hoa Lư so với các địa bàn khác. Lựa chọn vùng đất nổi tiếng với địa hình hiểm yếu nằm trên quẩn thể đá vôi, núi non trùng điệp, vua Đinh Tiên Hoàng đã thể hiện tài thao lược quân sự trong việc sử dụng địa hình tự nhiên làm lợi thế chiến đấu.

* Thể hiện qua tên riêng trong phức thể địa danh

Khu di tích Cố đô Hoa Lư có địa thế núi non hiểm trở. Đặc điểm tự nhiên này được phản ánh vào trong mỗi địa danh với những nét chấm phá chân thực. Một số địa danh phản ánh tính chất địa hình của đối tượng: núi Thiên Sơn, núi Độc Sơn, núi Mang Sơn, phủ Núi Ngàn có hiện tượng chuyển hóa từ thành tố chung chỉ loại hình (yếu tố “Sơn”, “Núi”) vào thành tố riêng của phức thể địa danh. Khi đó, nghĩa của các thành tố chung này sẽ trở nên “mờ nghĩa”. Địa hình nơi đây có hình dáng phong phú được mô phỏng và định danh theo hình dáng các con vật: như núi Cổ Tượng, núi Hàm Rồng, núi Đầu Giải, núi Cổ Giải, núi Cổ Tượng, núi Mã Yên, núi Rồng Chầu, núi Cánh Hàn… Những tên gọi này đã phản ánh tính đa dạng về địa hình địa thế của vùng đất nơi đây. Dựa vào hình dáng các con vật để định danh không phải là cách làm mới nhưng lối định danh quen thuộc này đã tạo dấu ấn văn hóa riêng cho vùng đất Cố đô.

Địa danh Cố đố Hoa Lư cũng đồng thời phản ánh vị trí phương hướng của đối tượng được định danh. Các địa danh phác họa bức tranh địa hình tự nhiên và định vị không gian cư trú của cư dân trên chính địa hình đó như cầu Đông (cây cầu nằm về phía Đông Kinh đô Hoa Lư), thôn Tây, thôn Đông, thôn Bắc, thôn Nam, thôn Đông Thành, thôn Trung, núi Cái Hạ… Bộ phận ý nghĩa chỉ phương hướng của đối tượng địa lý trong các địa danh này (tây, đông, bắc, nam) được thể hiện hoàn toàn bằng yếu tố gốc Hán Việt. Còn bộ phận ý nghĩa chỉ vị trí trong địa danh được ghi bằng yếu tố ngôn ngữ có nguồn gốc Hán (trung, hạ). Có thể thấy, sự phản ánh địa hình của một vùng đất qua địa danh có tính chất hệ thống và rõ ràng hơn nhờ các ý niệm không gian qua các yếu tố chỉ phương hướng, vị trí.

Ngoài ra, địa danh còn phản ánh kích thước: núi Hang To, núi Đại Vân, núi Đại Hữu, núi Sau Cái, núi Cái Hạ; phản ánh màu sắc của môi trường tự nhiên như hang Son, thôn Vàng Ngọc. Các địa danh này cho thấy sự tri nhận trực tiếp về màu sắc của cư dân bản địa.

Như vậy qua cách định danh, chúng ta nhận biết được phần nào đặc điểm tự nhiên của vùng đất nơi địa danh phản ánh.

2.1.2. Địa danh phản ánh tên gọi các loài động vật, thực vật có trên địa bàn cư trú

Trong khu di tích Cố đô Hoa Lư, các đối tượng địa lý được gọi theo tên các loài động vật cũng khá quen thuộc và gần gũi với đời sống nhân dân. Qua thu thập và thống kê, trên địa bàn khu di tích xuất hiện những địa danh phản ánh tên các loài động vật như: núi Rùa, núi Con Cóc, núi Con Bò, núi Con Tôm, núi Con Cá, núi Hổ, hang Vượn… Ngoài ra, chủ thể còn định danh đối tượng bằng từ Hán Việt để chỉ linh vật gắn bó với đời sống tâm linh của người dân địa phương như: núi Mãng Xà, núi Long Mã, núi Mã Yên… Nhìn chung, cách đặt tên cho địa danh theo tên các loài động vật thể hiện cách cảm nhận của cư dân bản địa về các hiện tượng trong đời sống và gắn với thực tiễn lao động sản xuất nơi đây.

Tương tự như kiểu định danh theo tên các loài động vật có trên địa bàn, chủ thể còn dùng tên cây cỏ để đặt địa danh. Thông qua địa danh, chúng ta có thể nhận biết được các loài thực vật có trên vùng đất chứa địa danh. Đó là những thực vật vô cùng gần gũi, quen thuộc với nhân dân địa phương như thực vật có tên trong địa danh núi Hang Sung….

Có thể nhận thấy các loài động, thực vật xuất hiện trong địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư chủ yếu là loài phổ biến, có liên quan đến sản xuất nông nghiệp và là những đối tượng thân quen, gần gũi, gắn bó với đời sống của con người. Thế giới động, thực vật ấy đã tạo nên một bức tranh sinh thái vừa gần gũi với cư dân địa phương vừa mang những nét văn hóa đặc trưng của địa bàn nơi chủ thể sinh sống. Như vậy, việc phản ánh môi trường tự nhiên trong địa danh không mang tính ngẫu nhiên, vô thức mà nó được chọn lọc dựa trên sự tri nhận của chủ thể văn hóa về các đối tượng trong thực tế khách quan. Địa danh phản ánh đặc trưng tự nhiên của vùng đất mà nó chào đời và chứa đựng giá trị văn hóa là vì thế.

2.2. Dấu ấn văn hóa trong địa danh thể hiện qua chủ thể văn hóa

2.2.1. Địa danh phản ánh hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân

Hệ thống địa danh của mỗi vùng miền, đặc biệt là tên gọi các công trình xây dựng như đền, đình, chùa, miếu, phủ... là những công trình mang tính chất lịch sử - văn hóa rõ rệt. Tất cả các thực thể địa lý khu di tích Cố đô Hoa Lư được gọi tên bằng các địa danh có thành tố chung chỉ công trình xây dựng ấy đều gắn với đời sống văn hóa tâm linh, phản ánh tôn giáo và tín ngưỡng của người dân nơi đây nói riêng, người dân Ninh Bình nói chung.

Địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư phản ánh rõ nét sự tồn tại của các di sản văn hóa vật thể thông qua các thành tố chung chỉ công trình xây dựng như “đền, chùa, miếu, phủ, nhà thờ, đình, lăng”… Theo số liệu thu thập, có 88 (dựa vào tài liệu [3], [4]) phức thể địa danh có thành tố chung chỉ công trình xây dựng. Trong đó có 19 phức thể địa danh chứa thành tố chung “phủ”: phủ Kình Thiên (Phủ Vườn Thiên), phủ Đầu Tường, phủ Chợ, phủ làng Thong, phủ Liên Hoa (Phủ Đá Bàn), phủ Đông Vương, phủ Đông Thành, phủ Núi Ngàn, phủ Vọng Hà... (1 số phủ hiện nay không còn: phủ Vật, phủ Cửa Đền, phủ Đông Hồ, phủ Cửa Sông, phủ Thủ Thành). 9 phức thể địa danh chứa thành tố “chùa”: chùa Nhất Trụ, chùa Bà Ngô, chùa Duyên Ninh, chùa Kim Ngân, chùa Am Tiên... 47 địa danh chứa thành tố “nhà thờ (họ)/từ đường”: nhà thờ Dương Đức Vĩnh, nhà thờ Phó Hiến sứ Hàn Giang Hầu, từ đường họ Nguyễn, từ đường họ Trần… 5 địa danh chứa thành tố “đền”: đền vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, đền Vực Vông... 3 địa danh chứa thành tố “lăng”: Lăng Vua Đinh, Lăng Vua Lê, lăng mộ bà Nguyễn Thị Niên; 3 địa danh chứa thành tố “đình”: đình Yên Thành, đình Yên Trạch, đình làng Chi Phong; 2 địa danh chứa thành tố “miếu”: miếu Hai Cô, miếu Chàm Phạm. Tất cả các thực thể địa lý được gọi tên bằng những địa danh trên là những công trình xây dựng - kiến trúc gắn với đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân nơi đây và trong số đó có nhiều công trình được công nhận là các di tích lịch sử.

Qua các số liệu thu thập được, trong khu di tích Cố đô Hoa Lư có các địa danh gắn với hoạt động tôn giáo (thể hiện qua thành tố “chùa” trong phức thể địa danh): chùa Bi, chùa Nhội, núi Chùa Am, núi Chùa Thủ... Những địa danh này phản ánh rõ nét sự tồn tại và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của cư dân bản địa. Vào thế kỷ X, tại nơi đây, Phật giáo được coi là Quốc giáo. Những ứng xử của nhà nước với Phật giáo cũng góp phần xây dựng nên giá trị văn hóa tâm linh mang sắc thái quốc gia. Điều này còn tạo ảnh hưởng lâu dài trong lịch sử phát triển dân tộc.

Ngoài ra, các địa danh khu di tích còn phản ánh khá rõ nét dấu ấn tín ngưỡng của người dân nơi đây:

- Tín ngưỡng thờ thánh, thờ chúa: miếu Chi Phong (thờ Thánh), đền Bim (thờ Thánh Quý Minh Đại vương), phủ Núi Ngàn (thờ Bà chúa Rừng xanh)…

- Tín ngưỡng thờ Phật, thờ Mẫu: Chùa Thủ, Chùa Ngần, Chùa, Nhất Trụ (thờ Phật); chùa Bà Ngô (thờ Phật, thờ Mẫu, thờ Tổ)…

- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Những dòng họ lớn trên địa bàn xây dựng nhà thờ họ, từ đường (Nhà thờ Đặng Văn Hài, Nhà thờ Nguyễn Huyền Trung, từ đường họ Nguyễn…)

- Tín ngưỡng thờ người có công với đất nước: Đền Vua Đinh, Đền Vua Lê, Phủ Kình Thiên, Phủ Đông Vương, Lăng Vua Đinh, Lăng Vua Lê

Trong các công trình xây dựng này, người dân ngoài thờ Thánh, thờ Phật, thờ Mẫu, thờ Tổ còn thờ các vị anh hùng dân tộc (vua Đinh, vua Lê), các Thái tử, công chúa và các vị công thần triều Đinh… Người dân lập nên nhiều phủ, đền, miếu, đình, chùa... để tri ân công ơn các nhân vật anh hùng hay những người đã được thần thánh hóa với ước mong sẽ có cuộc sống an lành, ấm no, tốt đẹp là điều dễ hiểu. Đó là sự an ủi về mặt tinh thần rất lớn của người dân nơi đây nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.

Có thể thấy, các địa danh khu di tích mang đậm dấu ấn tôn giáo và tín ngưỡng của người dân nơi đây. Sự tồn tại của các loại hình tín ngưỡng này trong đời sống văn hóa người Việt là một nét đẹp văn hóa dân tộc, là biểu hiện của truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người Phương Đông. Tưởng nhớ công lao của người có công giúp dân trong công cuộc đấu tranh, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước mang nội dung giá trị ý nghĩa lịch sử văn hóa truyền thống sâu sắc. Tín ngưỡng dân gian đã góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, là thành tố kết dính truyền thống văn hóa cộng đồng cư dân, góp phần làm cho nền văn hóa dân tộc thêm phong phú, đa dạng.

2.2.2. Địa danh phản ánh tâm lý tộc người

Khu di tích Cố đô Hoa Lư có một số địa danh (nhất là địa danh là từ Hán Việt) thể hiện khá rõ ước vọng của người dân: ước vọng đổi đời; ước vọng bình an, thịnh vượng dài lâu; ước vọng giàu có; ước vọng cuộc sống tươi đẹp. Qua đó, phản ánh nét đẹp văn hóa tinh thần của người dân nơi đây gửi gắm vào vùng đất mà mình sinh sống.

- Ước vọng đổi đời: Mọi người dân, kể cả người dân khu di tích Cố đô cũng đều mong muốn mọi thứ đến với mình đều mới mẻ, tốt đẹp hơn. Điều này thể hiện qua từ “tân” (mới, bắt đầu) trong địa danh như thôn Tân Hoa.

- Ước vọng bình an, thịnh vượng dài lâu: từ “an, thịnh, trường” trong địa danh phản ánh tâm tư, ước vọng một cuộc sống bình an, thịnh vượng, bền vững ở mọi phương diện cuộc sống như thôn Trường An, thôn Trường Thịnh, thôn Yên Trạch.

- Ước vọng giàu có: từ “vàng, ngọc, kim, ngân” trong địa danh thể hiện mơ ước một cuộc sống giàu có về vật chất và tinh thần như thôn Vàng Ngọc, chùa Kim Ngân.

- Ước vọng cuộc sống tươi đẹp: mỗi cư dân khi định cư ở vùng đất nào đó đều mong muốn mọi thứ đến với mình luôn tươi đẹp, vĩnh cửu và tràn đầy sức sống. “Xuân” là một yếu tố trong phức thể địa danh thể hiện điều đó như thôn Trường Xuân.

Có thể khẳng định rằng: cách đặt tên địa danh cũng như sản phẩm của nó bao giờ cũng mang dấu ấn văn hóa, ngôn ngữ của người đặt và sử dụng tên.

2.3. Dấu ấn văn hóa trong địa danh phản ánh lịch sử

Trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tên sông, tên núi, tên làng đều mang dấu ấn của văn hóa, lịch sử. Vì thế khi nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể biết được các biến cố, sự kiện lịch sử đã từng xảy ra trên địa bàn cũng như các giá trị văn hóa cộng đồng. Một số địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư cũng gắn liền với các dấu ấn lịch sử nơi đây.

Trong khu di tích Cố đô Hoa Lư, núi Mã Yên nằm ở phía trước đền vua Đinh. Ngọn núi này có hình giống chiếc yên ngựa khổng lồ nên người xưa đã đặt tên là Mã Yên sơn. Trên đỉnh núi Mã Yên có lăng vua Đinh. “Tương truyền, sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, triều đình đã an táng ông trên núi Mã Yên để đề cao tinh thần thượng võ của ông” [2, tr.88]. “Ở phía Nam, núi Mã Yên có hình như chiếc ngai nên núi có tên chữ là Hoàn Ỷ sơn. Ở giữa chiếc ngai đá khổng lồ đó là lăng vua Lê” [2, tr.89]. Địa danh này thể hiện quan niệm phong thủy của người Việt cổ, chọn thế đất linh thiêng để an táng các bậc đế vương.

Chùa Nhất Trụ là ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời Tiền Lê, nằm ở vị trí trung tâm thành Đông của kinh thành xưa. Đây là một di tích quan trọng, là nơi tu hành và họp bàn việc nước của các nhà sư thế kỷ X. Hiện nay, chùa thuộc thôn Nam, xã Trường Yên, thành phố Hoa Lư và lưu giữ nhiều cổ vật gắn với lịch sử hình thành kinh đô Hoa Lư xưa. Ngôi chùa có cột kinh đá hình bát giác (8 cạnh) khắc chữ Hán, phản ánh sự phát triển của Phật giáo triều đại Đinh - Tiền Lê.

Phủ Bà Chúa hiện nay ở thôn Tam Kỳ, xã Trường Yên thờ công chúa Phất Kim, con gái vua Đinh. Di tích có giếng Ngọc hình bát giác gồm 8 cạnh, xây liền kề gần tường bao.

Ở phía Bắc xã Trường Yên, thôn Trường Xuân có chùa Bà Ngô. Đây là ngôi chùa cổ thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư. Chùa được xây dựng từ thời nhà Đinh gắn liền với một nhân vật lịch sử là bà Ngô phu nhân - mẹ của Ngô Nhật Khánh. Tương truyền, sau những biến cố của gia đình, bà Ngô phu nhân đã ra khỏi Hoàng cung, lập một ngôi chùa ở ngoại thành Hoa Lư để tu hành. Ngôi chùa đó có tên là Đàm Lư nhưng dân gian vẫn gọi là chùa Bà Ngô.

Về phía đông kinh thành Hoa Lư có núi Cột Cờ. Tương truyền đây là nơi cắm cờ của vua Đinh Bộ Lĩnh, thể hiện tinh thần thống nhất đất nước sau khi ông dẹp loạn 12 sứ quân. Đây cũng là vị trí chiến lược, giúp quan sát toàn bộ vùng kinh đô cổ. Núi Cột Cờ gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong giai đoạn đầu của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam. Ngày nay, trên núi vẫn còn cột cờ mang ý nghĩa biểu tượng cho lịch sử hào hùng của dân tộc.

Ở phía đông nam khu thành ngoại kinh thành Hoa Lư có Ghềnh tháp, một mỏm núi nhấp nhô ra sát con sông Sào Khê. Tương truyền, Ghềnh tháp là chỗ vua Đinh đứng duyệt thủy quân… Gần đấy là động Am Tiên. Động có hình giống như miệng một con rồng khổng lồ nên còn được gọi là hang rồng. Động Am Tiên gắn với truyền thuyết về nơi tu hành của Thái hậu Dương Vân Nga sau khi nhường ngôi cho Lê Hoàn. Tương truyền, đây là “nơi vua Đinh nhốt hổ báo để trừng trị kẻ có tội”. “Đến thời Lý, nhà sư Nguyễn Minh Không quê ở Đàm Xá (Gia Viễn) đã biến “động quỷ” thành nơi thờ Phật” [2, tr.92].

Ao Giải là một ao lớn ở chân núi Đìa, nằm ở phía bắc khu thành Ngoại. Tương truyền ao Giải là nơi vua Đinh nuôi cá sấu để trừng trị kẻ phạm tội. Có thể nói, khu vực này là “pháp trường xử án để vua trị nước”. Đây cũng là nơi vua Lê Đại Hành nhốt các tù binh của nhà Tống xâm lược đến khi trao trả cho sứ giả Lý Giác vào năm 986.

Hang Muối, hang Tiềnhang Quàn là những hang núi lớn. Hang Muối, hang Tiền nằm trong vùng đệm Cố đô Hoa Lư. Tương truyền là nơi nhà Đinh để muối, để tiền. Thung lũng trong hang Quàn là nơi nhà Đinh luyện quân nên nhân dân gọi là “Đấu đong quân” với “ý nghĩa như một nơi luyện quân, điểm quân của vua Đinh” [2, tr.50]. Theo truyền thuyết, hang Quàn là nơi quàn thi hài của Vua Đinh Tiên Hoàng sau khi băng hà. Di tích này nằm cạnh sông Sào Khê lịch sử.

Sông Sào Khê là con sông nhỏ chảy qua khu vực Cố đô Hoa Lư. Đây là dòng sông gắn liền với lịch sử của nhà Đinh - Tiền Lê, từng là tuyến đường thủy quan trọng của kinh đô Hoa Lư xưa và dòng sông này cũng gắn với sự kiện dời đô về Thăng Long của nhà Lý. Dòng sông này bắt nguồn từ vùng núi đá vôi Tràng An, chảy qua các di tích lịch sử như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành và khu danh thắng Tràng An trước khi hòa vào sông Hoàng Long. Dòng sông uốn lượn giữa những dãy núi đá vôi hùng vĩ tạo nên khung cảnh thơ mộng và mang đặc trưng của vùng đất Ninh Bình.

Các địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư nêu trên đều là những địa danh gắn với các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Có thể nói, địa danh như “một nhân chứng sống” tái hiện lịch sử, ghi lại dấu mốc quan trọng của một vùng đất ở mỗi thời kỳ. Đây là những chứng tích có giá trị góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu giá trị văn hóa, lịch sử... dân tộc.

3. Địa danh được coi như những tấm bia lịch sử - văn hóa bằng ngôn ngữ của đất nước. Theo thời gian, nó là chứng nhân ghi dấu những sự kiện lịch sử, văn hóa quan trọng trên địa bàn. Địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư cũng mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa đa dạng và góp phần tạo nên diện mạo văn hóa chung ở vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Việc tìm hiểu lớp ý nghĩa ẩn tàng trong các địa danh tiêu biểu khu di tích sẽ góp phần “đào sâu” những tầng văn hóa, những dấu ấn lịch sử ẩn chứa đằng sau nó và làm sáng tỏ mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ với các ngành khoa học khác… của vùng đất nơi đây.

Các địa danh khu di tích Cố đô Hoa Lư là những bằng chứng sống động về một thời kỳ lịch sử quan trọng của đất nước Việt Nam, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nghiên cứu các địa danh tiêu biểu nơi đây dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa sẽ phần nào làm sáng rõ, thuyết phục diện mạo kinh đô Hoa Lư xưa. Đồng thời, qua việc tìm hiểu các địa danh khu di tích, đặc biệt là các địa danh lịch sử, thế hệ trẻ hiểu hơn về cội nguồn, ý thức được trách nhiệm bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc.

Chú thích: [1] Lã Đăng Bật (2007), Ninh Bình - Một vùng sơn thủy hữu tình, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; [2] Nguyễn Văn Trò (2008), Cố đô Hoa Lư, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội; [3] UBND tỉnh Ninh Bình, Danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 392/QĐ-UBND ngày 05/6/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình V/v phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020); [4] UBND xã Trường Yên, Phụ lục 1 - Số liệu về cơ sở tín ngưỡng; Phụ lục 2 - Số liệu về cơ sở tôn giáo (Kèm theo Báo cáo số 86 ngày 08/9/2022 của UBND xã Trường Yên V/v thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo).

Hồng Tâm - Lương Tú

(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình Số 302 - 2/2025)

Danh sách liên quan