Sự phát triển thương nghiệp và những chuyển biến kinh tế - xã hội
của Nhà nước Đại Cồ Việt thời Tiền Lê
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình hình thành và phát triển của Nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà Tiền Lê (980-1009) giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở kế thừa những nền tảng do nhà Đinh xác lập, nhà Tiền Lê đứng trước những yêu cầu mới, đặc biệt là nhiệm vụ củng cố chính quyền trung ương, phát triển kinh tế và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Dưới sự trị vì của vua Lê Đại Hành và vua Lê Long Đĩnh, nhà Tiền Lê đã triển khai nhiều chủ trương, biện pháp quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, giao thông đường thủy và đường bộ, góp phần ổn định đời sống xã hội và tăng cường tiềm lực quốc gia. Đây là giai đoạn lịch sử mang tính kế thừa và chuyển tiếp, vừa tiếp nối thành quả của thời Đinh, vừa tạo ra những chuyển biến có ý nghĩa nền tảng, mở đường cho bước phát triển cao hơn của quốc gia Đại Cồ Việt trong thời kỳ tiếp theo.
Trong hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi họa xâm lăng, đứng trước nhiệm vụ khôi phục và mở mang kinh tế, việc đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp, phát triển mạng lưới giao thông đường thủy và đường bộ, đồng thời tổ chức khai phá đất đai mang ý nghĩa chiến lược. Việc nghiên cứu các chính sách phát triển thương nghiệp không chỉ giúp phác họa rõ nét bức tranh kinh tế - xã hội của Đại Cồ Việt cuối thế kỷ X, mà còn làm nổi bật vai trò của nhà Tiền Lê trong quá trình xây dựng, củng cố nền độc lập và chủ quyền quốc gia.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thương nghiệp và lưu thông hàng hóa
Thương nghiệp và lưu thông hàng hóa dưới thời Tiền Lê phản ánh một giai đoạn phát triển quan trọng của nền kinh tế Đại Cồ Việt sau khi kháng Tống bình Chiêm thắng lợi. Năm 984 vua Lê Đại Hành cho đúc tiền Thiên Phúc, Đại Việt Sử ký toàn thư chép “Thiên Phúc năm thứ 5 (984), (Tống Ung Hy năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 2, đúc tiền Thiên Phúc”[1]. Đây được xem là một bước đi mang ý nghĩa chiến lược, không chỉ khẳng định quyền tự chủ về kinh tế, mà còn thể hiện rõ quyền lực chính trị độc lập và góp phần chuẩn hóa hệ thống tiền tệ vốn tồn tại dưới nhiều hình thức như “vàng, bạc nén, tiền đồng của Trung Quốc và tiền của nhà Đinh đã lưu hành từ trước”[2]. Đồng thời, điều này cho thấy nền kinh tế Đại Cồ Việt đang chuyển dần từ trao đổi vật phẩm sang sử dụng tiền tệ như một phương tiện thanh toán phổ biến, đặc biệt tại các chợ làng, chợ vùng và các tuyến giao thương liên lạc giữa các khu vực.
Sự mở rộng của thị trường dẫn tới nhu cầu sử dụng tiền ngày càng tăng, qua đó kích thích lưu thông hàng hóa và làm phong phú hơn các quan hệ kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, Nhà nước thời Tiền Lê giữ vai trò định hướng và quản lý thương nghiệp thông
[1] Đại Việt Sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.271.
[2] Trần Thị Vinh (chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.131.
qua việc kiểm soát biên giới, tổ chức tiếp sứ, điều tiết mua bán và quy chuẩn tiền tệ nhằm đảm bảo hoạt động giao thương diễn ra thông suốt, ổn định.
Bối cảnh kinh tế - xã hội ổn định đã mở ra điều kiện để Đại Cồ Việt duy trì và phát triển quan hệ thương mại với nhà Tống - đối tác buôn bán quan trọng nhất thời bấy giờ. Việc mua bán hàng hóa tại các chợ khu vực biên giới như Liêm Châu và Như Hồng ở Quảng Đông cho thấy triều đình Tiền Lê đã chủ động hội nhập kinh tế, nỗ lực tận dụng nguồn hàng hóa phong phú của nhà Tống để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước, đồng thời đưa các sản phẩm của nước ta như đồ thủ công, nông sản và sản vật địa phương ra trao đổi. Đặc biệt, sự kiện vua Lê Long Đĩnh năm 1009 đề nghị triều Tống cho phép mở rộng hoạt động thương mại vào sâu nội địa tại Ung Châu thể hiện rõ tầm nhìn xa về kinh tế. Đại Việt Sử ký toàn thư chép: “Cảnh Thụy năm thứ 2 (1009)…Vua lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng”[1]. Việc làm đó cho thấy Đại Cồ Việt muốn mở rộng thị trường, thúc đẩy giao thương và khẳng định vị trí của mình trong hoạt động thương mại với các nước láng giềng. Điều đáng chú ý là mặc dù bị hạn chế về mặt chính sách đối ngoại, hoạt động giao thương vẫn diễn ra mạnh mẽ, thể hiện qua những phát hiện khảo cổ học tại Hoa Lư (Ninh Bình) và Đại La (Hà Nội). Một số lượng đáng kể gốm sứ nhà Tống đã được phát hiện tại các khu vực thuộc Cố đô Hoa Lư. Riêng tại khu vực cánh đồng phía nam đền thờ vua Lê Đại Hành, các hiện vật thu được chủ yếu là “đồ gốm sứ thời Tống, với một số loại hình bát và đĩa phủ men xanh ngọc, men ngọc hoặc men trắng xanh”[2]. Sự hiện diện của các hiện vật này cho thấy Cố đô Hoa Lư từng là một không gian kinh tế - chính trị sôi động, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa với nước ngoài khá nhộn nhịp. Các loại gốm sứ ngoại nhập được tìm thấy trong tầng văn hóa thời Tiền Lê cũng góp phần minh chứng mối quan hệ bang giao, giao thương giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống, đồng thời phản ánh thị hiếu tiêu dùng và đời sống vật chất của tầng lớp cư dân trong kinh thành Hoa Lư thế kỷ X. Những phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp tái dựng bức tranh kinh tế - văn hóa của Hoa Lư trong giai đoạn chuyển tiếp từ thế kỷ X sang thế kỷ XI.
Có thể thấy thương nghiệp và lưu thông hàng hóa thời Tiền Lê mang nhiều đặc điểm nổi bật. Đó là sự khẳng định mạnh mẽ tính tự chủ của nền kinh tế thông qua việc phát hành tiền; là sự mở rộng giao thương cả trong nước và ngoài nước; là sự xuất hiện ngày càng rõ của nền kinh tế hàng hóa trong xã hội phong kiến Việt Nam và là sự quản lý tích cực, định hướng của nhà nước trong việc mở mang giao thông, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho trao đổi hàng hóa. Tất cả những yếu tố đó đã góp[1] Đại Việt Sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.288.
[2] https://daicoviet.ninhbinh.gov.vn/tin-ghim/ket-qua-khai-quat-nghien-cuu-di-tich-co-do-hoa-lu-ninh-binh-nam-2021-phan-2.
phần tạo nên một nền kinh tế năng động hơn so với thời Đinh, tạo nền tảng cho sự phát triển của các triều đại tiếp theo.
2.2. Phát triển hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ
Để thúc đẩy phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, nhà Tiền Lê đã đặt việc mở mang hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ vào vị trí ưu tiên. Năm 983, trong quá trình di chuyển về phía nam đánh quân Chiêm Thành để bảo vệ và mở mang lãnh thổ, vua Lê Đại Hành cho đào kênh nối từ Đồng Cổ (Yên Định, Thanh Hóa) đến sông Bà Hòa (Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Đại Việt Sử ký toàn thư chép “Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ, đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây đào xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”[1]. Tuyến đường thủy này đã trở thành trục giao thông nội địa quan trọng. Triều đình đã khai thác có hiệu quả mạng lưới sông ngòi tự nhiên để hình thành những tuyến đường thủy liên vùng kết nối các khu vực.
Đến năm 1003, nhà vua tiếp tục cho đào kênh Đa Cái (Hưng Nguyên, Nghệ An), liên kết các tuyến đường thủy ở Bắc Nghệ An với sông Lam, giúp việc đi lại giao lưu khu vực sông Mã và sông Lam thuận lợi và an toàn hơn.
Song song với đường thủy, hệ thống đường bộ cũng được mở rộng. Năm 992, Lê Đại Hành giao cho phụ quốc Ngô Tử An mở tuyến đường bộ ven biển từ cửa Nam Giới (Hà Tĩnh) đến Địa Lý (Quảng Bình). Đại Việt Sử ký toàn thư chép “Mùa thu, tháng 8, sai Phụ quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý”[2], đây là một trong những trục bộ dài và chiến lược của thời kỳ đó.
Vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu, niên hiệu Cảnh Thụy thứ 2 (1009), dưới thời vua Lê Long Đĩnh “Bọn Ngô đô đốc, Kiểu hành hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân dân ở châu ấy để đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh sơn đến sông Vũ Lung”[3]. “Đó là tuyến đường từ phía bắc huyện Nga Sơn qua Hoằng Hóa đến Quảng Xương, Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá ngày nay, nối liền với tuyến đường thủy do Lê Đại Hành đào từ trước. Lê Long Đĩnh không chỉ cho đắp đường mà còn lập đồn và dựng cột mốc trên tuyến đường bộ ở châu Ái (thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay)”[4].
Việc từng bước mở rộng giao thông đường thủy và đường bộ, kết hợp với đào kênh, khai khẩn đất đai và khuyến khích sản xuất nông nghiệp đã tạo nền tảng quan trọng cho sự mở rộng không gian kinh tế của nước ta từ vùng đồng bằng Bắc Bộ xuống khu vực Thanh Hóa, Nghệ An. Từ trung tâm kinh đô Hoa Lư, các tuyến giao thông nối với các vùng lân cận dần được hình thành, góp phần tăng cường lưu thông và thúc đẩy[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.271.
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.277.
[3] Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.288,289.
[4] Trần Thị Vinh (chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.137.
sự phát triển của các chợ làng, chợ vùng, đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa trong xã hội đương thời.
Những công trình giao thông được xây dựng dưới thời Tiền Lê không chỉ giữ vai trò then chốt trong việc hình thành hệ thống hạ tầng giao thông nội địa ban đầu của đất nước, mà còn phản ánh năng lực tổ chức, điều hành và quản lý các công trình công cộng của nhà nước Đại Cồ Việt ở cuối thế kỷ X.
2.3. Những chuyển biến kinh tế - xã hội
Dù tồn tại chưa đầy 30 năm, kinh tế - xã hội thời Tiền Lê khá ổn định và có nhiều thay đổi rõ rệt so với thời Đinh. Trước hết, việc mở rộng diện tích canh tác ven sông, ven biển và vùng trung du đã giúp cư dân mở rộng thêm không gian để canh tác. Các đồng bằng lớn như châu thổ sông Hồng, vùng ven biển Thanh - Nghệ nhanh chóng trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp, tạo ra sự tập trung dân cư và thúc đẩy sự phân bố lại lực lượng lao động.
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, mạng lưới giao thông đường thủy và đường bộ được mở rộng làm thay đổi cấu trúc liên kết vùng. Kênh đào, đường ven biển và các tuyến đường bộ trọng yếu đã xoá bỏ phần nào tính cát cứ địa phương, gắn kết các khu vực kinh tế giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Sự lưu chuyển hàng hóa, con người và thông tin diễn ra thông suốt hơn, tạo điều kiện hình thành các trung tâm chợ, các điểm tụ cư mới và từng bước thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển.
Trong đời sống xã hội, quá trình phân hóa giai cấp diễn ra nhanh và rõ hơn so với thời Đinh. Sản xuất mở rộng dẫn đến sự tích lũy của cải trong một bộ phận quan lại, trong khi đa số cư dân vẫn thuộc tầng lớp nông dân lao động. Sự khác biệt giàu - nghèo, trên - dưới ngày càng rõ, phản ánh tính chất phong kiến đang định hình mạnh mẽ. Bên cạnh đó, “tốc độ khai phá và chiếm lĩnh khu vực đồng bằng châu thổ ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ được đẩy mạnh. Và đây cũng là điểm khởi đầu cho việc gọi tên cư dân ở vùng sườn núi, đồi cao là người Mường và cư dân vùng đồng bằng châu thổ là người Việt”[1]. Đây là biểu hiện của sự mở rộng không gian cư trú và phạm vi kiểm soát của nhà nước, đồng thời là sự hình thành ban đầu của các yếu tố phân tầng xã hội theo vùng cư trú.
Nhìn tổng thể, những chuyển biến kinh tế - xã hội thời Tiền Lê không chỉ đặt nền móng cho cấu trúc kinh tế nông nghiệp trọng điểm, xã hội phân hóa rõ rệt, giao thương mở rộng và không gian quốc gia được xác lập vững chắc hơn, mà còn là những yếu tố quan trọng chuẩn bị cho sự phát triển bền vững của đất nước dưới các triều đại Lý - Trần sau này.
3. Kết luận
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng dù tồn tại trong khoảng thời gian không lâu, nhưng nhà Tiền Lê đã để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát[1] Trần Thị Vinh (chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.143.
triển của Đại Cồ Việt. Các chính sách đúc tiền, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, duy trì hoạt động buôn bán và mở mang hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ cho thấy triều đình sớm nhận thức vai trò của thương nghiệp và giao thông đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Qua đó, đời sống kinh tế - xã hội có những chuyển biến rõ nét, đồng thời quốc phòng và sự gắn kết lãnh thổ được củng cố.
Nhà Tiền Lê đã hoàn thành vai trò lịch sử như một cầu nối vững chắc giữa nhà Đinh và nhà Lý, đặt nền móng quan trọng cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước, đồng thời góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho mô hình quản lý nhà nước thống nhất, tập trung trong thời kỳ đầu xây dựng nhà nước tự chủ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.

Đài tưởng niệm Kênh nhà Lê tại Nghệ An
Lương Tú