Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa lư Ninh Bình

ĐINH BỘ LĨNH VÀ SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC Ở THẾ KỶ X

Thứ bảy, 14/3/2026 , Đã xem: 503
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 10 điểm ( 2 đánh giá )

ĐINH BỘ LĨNH VÀ SỰ NGHIỆP

THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC Ở THẾ KỶ X

Thế kỷ X là giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội), nền độc lập dân tộc được xác lập, mở ra thời kỳ tự chủ sau hơn một nghìn năm chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên, nền độc lập vừa được khôi phục chưa kịp củng cố, đất nước lại nhanh chóng rơi vào tình trạng khủng hoảng và phân liệt. Sau khi Ngô Quyền mất (944), nội bộ triều Ngô bất ổn “Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) âm mưu cướp ngôi. Các thổ hào, lãnh chúa nổi lên khắp nơi, cát cứ chống lại chính quyền trung ương. Sau khi Xương Ngập (954) và Xương Văn chết (965), triều Ngô thực tế không còn tồn tại, đất nước rơi vào thế hỗn loạn của nhiều tướng lĩnh chiếm cứ các vùng địa phương, đánh lẫn nhau. Sử cũ gọi là “Loạn 12 sứ quân”[8, tr.68].

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nước ta là phải chấm dứt tình trạng phân liệt, khôi phục sự thống nhất và thiết lập một chính quyền trung ương đủ mạnh để ổn định đất nước. Đinh Bộ Lĩnh xuất hiện như một vị anh hùng có vai trò xoay chuyển cục diện, thống nhất non sông và đặt nền móng vững chắc cho nền độc lập dân tộc. Bằng tài năng quân sự, bản lĩnh chính trị và khả năng tổ chức lực lượng, ông đã từng bước tập hợp các thế lực, thu phục các sứ quân, chấm dứt hoàn toàn nạn cát cứ, lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu Thái Bình và đặt nền móng cho Nhà nước Phong kiến Trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thân thế Đinh Bộ Lĩnh

Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 tại Châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình). Ông là con trai Đinh Công Trứ - Thứ sử Hoan Châu (nay thuộc tỉnh Nghệ An). Đại Việt sử ký tiền biên chép “Cha vua là Đinh Công Trứ, làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Đình Nghệ trao quyền nhiếp chức Thứ sử Hoan Châu kiêm chức ngự phiên đô đốc, sau theo về Ngô Vương, được làm chức cũ. Mẹ vua là Đàm Thị, từng chiêm bao thấy một bậc trượng phu, tay cầm ấn xin gửi thân làm con, tỉnh ra liền có thai, rồi sinh ra vua. Vua phong tư đẹp đẽ lạ thường. Cha vua rất mừng, nhưng thấy việc đời ngày càng sai trái bèn bỏ quan về, chẳng được bao lâu thì mất” [14, tr.195-196].

Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha nên phải theo mẹ vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau:“Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn” [1, tr.253-254]. Chính hoàn cảnh đó đã sớm rèn luyện cho Đinh Bộ Lĩnh bản lĩnh, ý chí và khả năng tự tổ chức cộng đồng. Hình ảnh cậu bé chăn trâu, dùng hoa lau làm cờ, được bọn trẻ suy tôn làm “trưởng” được Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại không chỉ như một giai thoại, mà còn phản ánh tố chất thông minh, uy tín xã hội và khí chất lãnh đạo hình thành từ rất sớm của Đinh Bộ Lĩnh.

                                                                              Hình ảnh hoa lau tại động Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình)

Khi triều đình nhà Ngô ngày càng khủng hoảng bởi những tranh chấp nội bộ và sự bất lực trong quản lý đất nước, Đinh Bộ Lĩnh đã sớm nhận ra xu thế tan rã của quyền lực trung ương. Với vị thế là con một võ quan triều Ngô, lại có uy tín tại địa phương, ông từng bước tập hợp lực lượng ở châu Đại Hoàng, lấy động Hoa Lư làm căn cứ. Hoa Lư là một thung lũng rộng, bốn bề núi đá vôi bao bọc, địa thế hiểm trở, phía trước có đèo hẹp và đầm nước lớn, vừa thuận lợi cho phòng thủ, vừa thông ra sông cho phép mở rộng hoạt động quân sự ra các vùng lân cận. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục viết “Hoa Lư ở về sơn phận hai xã Uy Viễn và Uy Tế thuộc Ninh Bình. Nơi đây bốn mặt đều có núi đá

đứng thẳng như bức vách, trong có một chỗ hơi bằng phẳng rộng rãi, người xứ ấy gọi là động Hoa Lư. Theo sách An Nam kỷ yếu, Hoa Lư ở về huyện Lê Bình. Lê Bình bây giờ là Gia Viễn, trong lòng động rộng hàng hai trượng có một cái lạch nước quanh co khuất khúc chảy đến phía nam thành Hoa Lư. Thành Hoa Lư cũng ở huyện Lê Bình. Họ Đinh nhân thế núi đắp thành ấy chu vi năm trăm trượng. Vết thành cũ vẫn còn. Như thế thì động Hoa Lư là chỗ Đinh Tiên Hoàng khởi binh; thành Hoa Lư ở Trường Yên là nơi đóng đô của họ Đinh.” [5, tr.216]. Việc lựa chọn Hoa Lư làm căn cứ cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đinh Bộ Lĩnh trong việc xây dựng một trung tâm quyền lực độc lập, đối trọng với triều đình nhà Ngô đang suy yếu.

Động Hoa Lư

Sự lớn mạnh của lực lượng ở Hoa Lư khiến triều đình nhà Ngô phải nhiều lần đem quân đến đánh dẹp. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, Đinh Bộ Lĩnh không chủ trương đối đầu trực diện mà áp dụng sách lược mềm dẻo, tạm thời hòa hoãn để củng cố lực lượng. Việc đưa con trai là Đinh Liễn ra Cổ Loa làm con tin là một bước đi chiến thuật quan trọng. Khi hai vương nhà Ngô (Thiên Sách Vương, Nam Tấn Vương) dùng Đinh Liễn để uy hiếp, Đinh Bộ Lĩnh đã thể hiện thái độ kiên quyết, đặt lợi ích quốc gia và sự nghiệp lớn lên trên tình riêng. Ông khẳng khái nói: “Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà mà xót con hay sao [1, tr.249], đồng thời sai hơn chục người cầm cung nỏ chĩa vào Đinh Liễn. Trước khí phách và quyết tâm ấy, hai vương buộc phải cho quân rút lui. Từ đó, thế lực của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh.

Đinh Bộ Lĩnh với công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước

Sau năm 965, khi triều Ngô thực tế không còn tồn tại, đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn, các hùng trưởng địa phương đồng loạt nổi lên cát cứ. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Dần năm thứ 16 (966), Nam Tấn vương mất. Các hùng trưởng đua nhau nổi dậy, đều chiếm cứ quận ấp để tự giữ: Ngô Xương Xí chiếm cứ Bình Kiều[1]; Kiểu Công Hãn (xưng là Kiểu Tam Chế) chiếm cứ Phong Châu[2]; Nguyễn Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình) chiếm cứ Tam Đái[3]; Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công) chiếm Đường Lâm[4] (có sách chép là chiếm Giao Thuỷ); Đỗ Cảnh Thạc (xưng Đỗ Cảnh Công) chiếm Đỗ Động Giang[5]; Lý Khuê (xưng Lý Lãng Công) chiếm Siêu Loại[6]; Nguyễn Thủ Tiệp (xưng Nguyễn Lệnh Công), chiếm Tiên Du[7]; Lữ Đường (xưng Lữ Tá Công) chiếm Tế Giang[8]; Nguyễn Siêu (xưng Nguyễn Hữu Công) chiếm Tây Phù Liệt[9]; Kiểu Thuận (xưng Kiểu Lệnh Công) chiếm Hồi Hồ[10]; Phạm Bạch Hổ (xưng Phạm Phòng Át) chiếm Châu Đẳng[11]; Trần Lãm (xưng Trần Minh Công) chiếm cứ Bố Hải Khẩu[12]; gọi là 12 sứ quân”[1, tr.251].

12 sứ quân với địa bàn trải rộng từ trung du đến đồng bằng Bắc Bộ đã biến lãnh thổ quốc gia thành những mảnh cắt quyền lực rời rạc. Phần lớn các sứ quân vốn là võ quan cũ của triều Ngô hoặc thổ hào địa phương, nắm trong tay binh lực, kinh tế và quyền cai quản vùng lãnh thổ nhất định. Tuy nhiên, sự tồn tại của họ không mang lại ổn định mà càng làm sâu sắc thêm tình trạng chia cắt, mâu thuẫn cục bộ và khủng hoảng xã hội. Nền độc lập vừa được khôi phục sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc còn non trẻ, đứng trước nguy cơ bị chia cắt và khó có thể duy trì lâu dài. Việc thu phục các sứ quân, chấm dứt tình trạng cát cứ và thống nhất đất nước trở thành yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Trước tình hình đó, Đinh Bộ Lĩnh trở thành lực lượng duy nhất có đủ điều kiện để thực hiện công cuộc thống nhất đất nước. Ông không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà còn vận dụng linh hoạt các biện pháp chính trị. Việc liên kết với Trần Minh Công - sứ quân trấn giữ Bố Hải Khẩu là một bước đi chiến lược quan trọng. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con nối, bèn cùng với con là Liễn đến nưong tựa. Minh Công thấy Bộ Lĩnh dáng mạo khôi ngô lạ thường, lại có khí lượng, mới nuôi làm con, ơn yêu đãi ngày càng hậu, nhân đó giao cho coi quân, sai đi đánh các hùng trưởng khác, đều thắng được cả.”[1, tr.252]. Từ đây, thế lực của Đinh Bộ Lĩnh được mở rộng đáng kể, kiểm soát một vùng rộng lớn từ Hoa Lư đến ven biển Thái Bình (tỉnh Hưng Yên ngày nay), tạo tiền đề vật chất và quân sự cho công cuộc dẹp loạn.

[1] Bình Kiều: thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay

[2] Phong Châu: thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay

[3] Tam Đái: thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay

[4] Đường Lâm: thuộc thành phố Hà Nội ngày nay

[5] Đỗ Động Giang: thuộc thành phố Hà Nội ngày nay

[6] Siêu Loại: thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay

[7] Tiên Du: thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay

[8] Tế Giang: thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay

[9] Tây Phù Liệt: thuộc thành phố Hà Nội ngày nay

[10] Hồi Hồ: thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay

[11] Châu Đẳng: thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay

[12] Bố Hải Khẩu: thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay

Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được một đội ngũ tướng lĩnh tài năng như Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Phạm Cự Lạng, Trịnh Tú, Đinh Điền…, đồng thời tập hợp lực lượng quân sự chủ yếu từ dân đinh các vùng Ninh Bình, Thanh Hóa. Khi thời cơ chín muồi, ông tiến hành dẹp loạn bằng nhiều phương thức khác nhau: với một số sứ quân thì liên kết, chiêu dụ và hàng phục; với những thế lực ngoan cố, có tiềm lực mạnh như Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn, Nguyễn Siêu thì sử dụng biện pháp quân sự quyết liệt.Thần phả Độc Nhĩ đại vương cho biết Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang tập hợp tàn quân cùng với gia đình dân phu của 72 ấp tại Trại Quyền đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh hơn một năm trời”[12, tr.77]. Các cuộc giao tranh diễn ra ác liệt, có nơi kéo dài hơn một năm, song kết cục đều nghiêng về phía lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh.

Trong khoảng hơn hai năm, bằng sự kết hợp giữa mưu lược chính trị, sức mạnh quân sự và uy tín cá nhân, Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt thu phục toàn bộ các sứ quân, chấm dứt hoàn toàn tình trạng phân liệt, cát cứ kéo dài. Thắng lợi đó được nhà sử học Lê Văn Hưu đánh giá ngắn gọn mà sâu sắc: “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trướng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết”[1, tr.255]. Đánh giá về sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng, sử gia Ngô Thì Sĩ từng nhận xét: “Tiên Hoàng dấy lên từ một người áo vải, một lần nổi lên dẹp được 12 sứ quân. Rồi dựng nước, dựng kinh đô, đổi niên hiệu, chính ngôi vua. Võ công vang khắp, văn hóa đều đổi mới [14, tr.201]. Nhận định này phần nào khái quát được tầm vóc và ý nghĩa to lớn của sự nghiệp thống nhất đất nước do Đinh Bộ Lĩnh thực hiện.

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp của Đinh Bộ Lĩnh, công cuộc thu phục các sứ quân thực chất là quá trình đặt nền móng cho sự thống nhất đất nước sau một thời kỳ phân liệt kéo dài. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, mở ra triều đại nhà Đinh “vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Đế” [1, tr.255]. Việc xưng đế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện ý thức độc lập và vị thế ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc. Năm 970, đặt niên hiệu Thái Bình, một lần nữa khẳng định sự tự tin vào sức mạnh dân tộc, khát vọng về một đất nước thái bình, hưng thịnh.

Vai trò của Đinh Bộ Lĩnh trong việc chấm dứt cục diện phân liệt đất nước ở thế kỷ X có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình lịch sử dân tộc. Trong bối cảnh các thế lực cát cứ nổi lên sau khi triều Ngô suy yếu, ông đã sớm nhận thức được yêu cầu cấp thiết phải khôi phục sự thống nhất quốc gia và xây dựng một chính quyền trung ương đủ mạnh để ổn định đất nước. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng tổ chức lực lượng, Đinh Bộ Lĩnh đã quy tụ được nhiều tướng lĩnh và hào trưởng có uy tín, từng bước tạo dựng một thế lực quân sự đủ sức thu phục các sứ quân. Bên cạnh đó, sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân đã trở thành nền tảng xã hội quan trọng góp phần đưa công cuộc thống nhất đất nước đến thắng lợi.

Thắng lợi này không chỉ đơn thuần là kết quả của một lực lượng địa phương mạnh chiến thắng các thế lực địa phương khác, mà còn phản ánh xu thế lịch sử tất yếu của xã hội Việt Nam ở thế kỷ X: xu thế tập trung quyền lực và củng cố nền độc lập dân tộc sau thời kỳ Bắc thuộc. Sự nghiệp thống nhất của Đinh Bộ Lĩnh vì thế đã đáp ứng được nguyện vọng chung của đông đảo các tầng lớp nhân dân về một đất nước ổn định, thống nhất và có chính quyền trung ương vững mạnh.

                                 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội các quan bản (Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 - 1697), Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. An Nam truyện (ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc) (2001), Châu Hải Đường dịch và biên soạn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

3. Lã Đăng Bật (2018), Nhân vật lịch sử Kinh đô Hoa Lư 968 - 1010, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

4. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Giáo dục, Hà Nội.

5. Quốc Sử quán Triều Nguyễn (dịch giả: Viện Sử học) (2007), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

6. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) (2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

7. Ngô Thời Sĩ (1960), Việt Sử tiêu án, NXB Văn hóa Á châu, Sài Gòn.

8. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) (2011), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9. Đặng Công Nga (2002), Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê,

10. Nguyễn Văn Trò (2002), Cố đô Hoa Lư, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

11. Trương Đình Tưởng (2004), Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, NXB Thế giới, Hà Nội.

12. Trần Thị Vinh (chủ biên) (2017), dẫn theo Lịch sử Việt Nam tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

13. Trần Quốc Vượng dịch (2005), Việt Sử lược , NXB Thuận Hóa, Huế.

14. Viện nghiên cứu Hán Nôm (2018), Đại Việt Sử ký tiền biên, Lê Văn Bảy, Nguyễn Thị Thảo, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và chú thích, NXB Hồng Đức, Hà Nội.

                                                                   Lương Tú - Phòng NCSTBT                                                  

 

Danh sách liên quan