Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa lư Ninh Bình

MỐI QUAN HỆ VÀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KINH ĐÔ HOA LƯ VÀ KINH THÀNH THĂNG LONG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Thứ sáu, 17/4/2026 , Đã xem: 732
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 50 điểm ( 10 đánh giá )

MỐI QUAN HỆ VÀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KINH ĐÔ HOA LƯ

 VÀ KINH THÀNH THĂNG LONG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM 

1. Đặt vấn đề

Năm 968, sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, quyết định chọn Hoa Lư làm nơi định đô, đặt tên nước Đại Cồ Việt và lấy niên hiệu là Thái Bình. Năm 980, tiếp nối sự nghiệp dựng nước, Lê Hoàn kế vị ngôi báu từ nhà Đinh, mở ra triều đại Tiền Lê. Năm 981, ông đánh tan quân Tống ở biên giới phía bắc, năm 982 bình quân Chiêm Thành ở phía nam. Năm 1010, sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi là Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Từ đây, Hoa Lư kết thúc vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự của đất nước.

Tương truyền, khi dời đô, triều đình đã tháo dỡ một số công trình ở Hoa Lư để đưa về xây dựng kinh đô mới, đồng thời đặt một số địa danh ở Thăng Long theo tên gọi quen thuộc của Hoa Lư nhằm thể hiện sự kế thừa và tri ân.

Trong tiến trình xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ, Hoa Lư và Thăng Long đều giữ vai trò là trung tâm quyền lực quan trọng. Tuy nhiên, mỗi kinh đô phản ánh một tư duy lựa chọn không gian khác nhau: Hoa Lư được thiết lập trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc với địa thế thuận lợi cho phòng thủ quân sự; Thăng Long hướng tới sự phát triển lâu dài, mở rộng giao thương và quản lý lãnh thổ.

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai kinh đô không chỉ giúp làm rõ vai trò của trung tâm quyền lực đầu tiên mà còn cho thấy sự chuyển tiếp lịch sử quan trọng từ Hoa Lư sang Thăng Long trong tiến trình phát triển của dân tộc.

2. Nội dung

2.1 Về vị trí kinh thành

Hoa Lư có địa hình núi non hiểm trở, được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi và thung lũng khép kín, vị trí đặc biệt thuận lợi cho việc tổ chức phòng thủ và bảo vệ đất nước trước nguy cơ xâm lược. Bên cạnh vai trò như một “lá chắn tự nhiên” vững chắc, địa thế này còn giúp triều đình dễ dàng kiểm soát tình hình, nhanh chóng ổn định trật tự chính trị - xã hội sau thời kỳ biến động. Nhờ đó, Hoa Lư trở thành nền tảng an toàn và bền vững để xây dựng bộ máy nhà nước, củng cố quyền lực trung ương và từng bước phát triển quốc gia trong buổi đầu độc lập.

Toàn cảnh Cố đô Hoa Lư - vùng đất núi sông hiểm yếu, địa thế thuận lợi cho phòng thủ, củng cố và phát triển nhà nước thời Đinh - Tiền Lê.

Năm 1010, Thăng Long được Lý Công Uẩn lựa chọn, “Thiên đô chiếu” viết … ở giữa khu vực trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam, bắc, đông, tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời[1, tr.297].

Kinh đô Hoa Lư và kinh thành Thăng Long có điểm tương đồng nổi bật trong việc lựa chọn vị trí xây dựng, đều gắn với các bãi bồi ven những con sông lớn - nơi hội tụ điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cả phòng thủ và phát triển. Cả hai đều được đặt tại những đoạn sông uốn khúc, nơi dòng chảy chậm lại và phù sa bồi đắp màu mỡ: Hoa Lư nằm ở khúc co của sông Hoàng Long, Thăng Long tọa lạc tại khúc eo của sông Hồng.

Thực tiễn lịch sử đô thị cổ cho thấy, các trung tâm cư trú và thành thị thường hình thành ven sông hoặc tại các đoạn eo sông, nhằm tận dụng lợi thế giao thông thủy - bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương và phát triển kinh tế. Sự lựa chọn này vừa phản ánh kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược trong tổ chức không gian đô thị của người xưa.

Đáng chú ý, tại khu vực chùa Bà Ngô (phường Tây Hoa Lư), qua các đợt khai quật khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật có niên đại thời Bắc thuộc như vò sáu núm, vò bốn núm… Những phát hiện này gợi mở khả năng nơi đây từng là trung tâm hành chính của Trường Châu dưới thời Đường, cho thấy Hoa Lư không phải là một không gian hoàn toàn mới, mà đã có nền tảng lịch sử - hành chính từ trước khi được lựa chọn làm kinh đô.

Kinh thành Thăng Long, vùng đất trung tâm Hà Nội ngày nay, nơi có con sông Hồng uốn lượn được chọn vì địa thế “toạ sơn, hướng thuỷ”. Đoạn khúc eo của sông Hồng đã từng là địa điểm của thành Đại La, xây dựng vào thế kỷ IX. Năm 866, Cao Biền được vua Đường phong làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, ông đã cho gia cố, mở rộng xây dựng thêm thành Đại La vững chắc bằng gạch, có đắp đất, hào nước bao quanh, quy mô lớn hơn nhiều so với các thành Tống Bình (trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của phương Bắc) trước khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010.

2.2 Về mạng lưới giao thông

Kinh đô Hoa Lư và kinh thành Thăng Long chủ yếu dựa vào đường thủy. Tại Hoa Lư, dòng chảy sông Hoàng Long nằm bên ngoài sông Sào Khê; trong khi đó, ở Thăng Long, dòng chảy sông Hồng nằm bên ngoài sông Tô Lịch. Cả hai kinh đô đều tọa lạc cạnh các dòng sông lớn, giúp triều đình dễ dàng điều động quân đội bằng thuyền chiến và vận chuyển lương thực, hàng hóa giữa các vùng miền.

Tại Hoa Lư, thuyền bè có thể đi từ sông Đáy vào sông Hoàng Long, xuôi theo Sào Khê vào đến kinh thành; hoặc ngược dòng từ Hoàng Long ra sông Đáy, ngược Châu Cầu (ngày nay thuộc phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình) đổ sang sông Hồng; hoặc từ Hoàng Long đổ ra sông Đáy, xuống cửa Đại Ác (Đại An, nay là ngã ba Độc Bộ), rồi theo cửa Đại Ác vào sông Đào để ra sông Hồng. Ngoài ra, từ sông Đáy thuyền bè còn có thể theo Vân Sàng, xuôi Trinh Nữ đến cửa Thần Phù hoặc cửa Càn ra biển, tiếp tục bằng đường thủy đi vào Châu Ái.

Sông Hoàng Long và sông Sào Khê giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Hoa Lư. Sông Hoàng Long nối kinh đô với hệ thống sông Hồng, cho phép quân đội nhà Đinh và nhà Lê nhanh chóng triển khai ra phía bắc hoặc xuống phía nam. Các cửa sông được canh phòng nghiêm ngặt, biến Hoa Lư trở thành một quân cảng thủy nội địa hiểm hóc.

Ở Thăng Long, thuyền bè có thể từ sông Đáy vào sông Nhuệ, sông Tô Lịch để vào kinh đô, hoặc từ quân cảng Đông Bộ Đầu và Thương cảng (cửa sông Tô Lịch) ra sông Hồng, tiếp tục sang sông Nhuệ, sông Đáy để ra biển. Vị trí chiến lược phía đông giáp sông Hồng, các phía còn lại bao bọc bởi sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu, tạo nên một hệ thống phòng thủ vững chắc. “Khúc eo” này giúp kiểm soát giao thông thủy bộ, đồng thời biến nơi đây thành trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hệ thống sông ngòi không chỉ vận chuyển sản vật từ khắp nơi về kinh kỳ mà còn cho phép các hạm đội thuyền chiến lớn di chuyển dễ dàng, khẳng định vị thế trung tâm điều hành quốc gia.

Như vậy, mạng lưới sông ngòi của hai kinh đô vừa là lá chắn phòng thủ, vừa là mạch máu giao thông quan trọng. Nếu Hoa Lư tận dụng sông ngòi như chiến hào tự nhiên để bảo vệ nền độc lập mới giành được, thì Thăng Long lại biến chúng thành long mạch giao thương, phục vụ phát triển quốc gia hưng thịnh.

2.3 Về Cấu trúc của thành quân sự

Nếu kinh đô Hoa Lư nổi bật với thế phòng ngự dựa vào sông ngòi và núi non bao bọc, thì Thăng Long lại mạnh về khả năng cơ động, bao quát và cũng đều có hai vòng thành. Thành Hoa Lư gồm hai dạng: thiên tạo và nhân tạo. Ngoài hệ thống sông ngòi, ba mặt trong của dãy đá vôi kiên cố tạo phòng tuyến tự nhiên vững chắc, trong khi hướng đông bắc (mặt trước) có một số dãy núi không liền nhau, nên nhà vua đã cho xây dựng hệ thống tường nối bằng gạch đất nung. Nhiều viên gạch được in dòng chữ 大越國軍城塼 (Đại Việt quốc quân thành chuyên) và 江西軍 (Giang Tây quân), khẳng định vai trò quân sự và phòng thủ.

Kinh đô Hoa Lư rộng khoảng 300 ha, chia làm thành Nội và thành Ngoại, giới hạn trong các thung lũng đá. Thành Nội, thuộc thôn Chi Phong (phường Tây Hoa Lư, Ninh Bình), được cho là nơi ở của quan lại, cung tần mỹ nữ và nhà kho. Hiện còn địa danh như nền Kho, nền Cung, Thư Nhi xã, Kim Ngân tự (chùa Ngần) và Diên Ninh tự (chùa Thủ). Thành Ngoại, hiện nay là một phần thuộc phường Tây Hoa Lư, là nơi dựng cung điện chính, vua ở và làm việc. Hai khu vực này được ngăn cách bởi dãy núi Phi Vân và nối với nhau bằng quèn Vông.

Khai quật tường Thành Dền (tổ dân phố Chi Phong, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình)

Thành Ngoại tương tự Thăng Long về quy mô: tường Đông nối từ núi Đầm - núi Thanh Lâu - núi Cột Cờ; tường Bắc nối từ núi Cột Cờ - núi Chẽ - núi Chợ; phía Đông có dãy núi Hang Quàn, phía Tây dãy núi Phi Vân trấn giữ, phía Nam có quèn Thụ Mộc như tường thành. Như vậy, thành Ngoại bao gồm từ xứ Hậu Đường (khu hang Trâu) đến Xuyên Thủy động (hang Luồn) và quèn Thụ Mộc.

Thành Nội, vòng ngoài là tường Dền, nối từ núi Hàm Xà sang Cánh Hàn và từ Cánh Hàn sang núi Nghẽn; phía Đông cùng dãy Phi Vân, phía Tây do dãy núi Chùa Thủ trấn giữ, phía Nam có núi bao quanh. Thành Ngoại vừa là chiến lũy, vừa là hệ thống phòng thủ đê điều, chống thiên tai, lũ lụt.

Hoa Lư được núi non bao bọc hai phía Đông - Tây, nhưng phía Bắc - Nam được đắp thêm tường thành. Sông Hoàng Long được ví như La Thành, vòng thành trong tại Hoa Lư tương tự cung Cấm Thành thời Lý. Năm 1991, Bảo tàng Hà Nam Ninh khai quật tường Chẹm phía Bắc đền vua Lê: cách dãy Phi Vân 74,3 m, độ sâu 40 cm, tường gạch dày 60 cm, cao 50 cm, gồm 13 hàng gạch chữ nhật 30 x 20 x 3,5 cm, có viên “Đại Việt Quốc quân thành chuyên” giống với phát hiện năm 1970 ở phía Đông - Bắc Hoa Lư. Tường xây trên bệ móng gỗ lim, lớp đệm tre, nứa; móng bè gỗ dày 20,6 m, gồm 108 cây gỗ ken vào nhau theo hướng Bắc - Nam, chắn từ Phi Vân đến cống Chẹm và sang núi Hang Quàn bảo vệ cho cung thành bên trong. Tường Vầu chắn ngang ở phía Nam cung thành của khu thành Ngoại không chỉ nối từ núi Vung Vang qua núi Mã Yên mà còn nối từ núi Mã Yên sang núi Dù.

Thành Nội có tường thành Vầu nối từ chùa Thủ sang núi Thanh Lâu, giống như tường thành Chẹm chắn ở phía Bắc. Phía nam thành Nội còn có hệ thống thành Bồ, thành Bim tạo vòng cung. Như vậy, thành Ngoại và thành Nội đều có hai vòng tường thành, nối với nhau bằng quèn Vông.

Thành Thăng Long thời Lý được xác định là La Thành của Cao Biền (vòng ngoài, hiện còn dấu vết). Các đoạn thành dựa vào thế tự nhiên, đắp đất; cánh cửa bảo vệ là những đoạn khuyết của tường, không xây cổng hay môn lâu như các tòa thành đời sau:“… Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt thành mở bốn cửa; phía Đông gọi là cửa Tường Phù, phía Tây cửa Quảng Phúc, phía Nam cửa Đại Hưng, phía Bắc cửa Diệu Đức…[1, tr.298].

Lối bố trí này tương tự khảo cổ phát hiện năm 1970 ở thành đông bắc Hoa Lư. Hệ thống thành nhân tạo của Thăng Long xây theo mô hình Tam trùng thành quách (ba vòng đồng tâm: La Thành, Hoàng Thành, Cấm Thành). Vật liệu chính gồm đá, gỗ, ngói, gạch in chữ “Đại Việt Quốc quân thành chuyên” và đất đắp. Gạch nung kỹ, trang trí rồng, phượng tinh xảo; thành khép kín, hiểm trở, bảo vệ vua và Hoàng tộc. Quy hoạch rộng, cửa thành mở ra các hướng, kết nối khu phố nghề, chợ dân cư. Sự kết hợp sông ngòi tự nhiên (sông Hồng, sông Tô Lịch) cùng hào nhân tạo giúp bảo vệ và thoát nước cho thành.

2.4. Về kiến trúc cung điện, dấu ấn văn hóa tâm linh

Một đặc điểm nổi bật có thể nhận thấy là các cung điện ở thành Hoa Lư và kinh thành Thăng Long thời Lý đều được xây dựng theo nguyên tắc quy tụ về trung tâm và bố cục đối xứng, thể hiện tư duy quy hoạch chặt chẽ và ý thức về không gian quyền lực của vương triều. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “… Năm 984, Lê Hoàn cho dựng điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột giát vàng bạc, làm nơi coi chầu; phía Đông là điện Phong Lưu, phía Tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc. Tiếp đó làm lầu Đại Vân, dựng thêm điện Trường Xuân làm nơi vua nghỉ. Bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, mái lợp ngói bạc…[1, tr.271].

Đến năm 1010, Lý Thái Tổ “…cho xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long: phía trước dựng điện Càn Nguyên làm nơi coi chầu, bên tả là điện Tập Hiền, bên hữu là điện Giảng Võ. Mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn; hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng, trong thềm có hành lang dẫn ra bốn phía. Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh; phía sau dựng hai cung Thúy Hoa, Long Thụy làm nơi ở của cung nữ…[1, tr.297].

Kết quả khảo cổ học đã phát hiện nhiều loại hiện vật là vật liệu xây dựng và đồ trang trí kiến trúc cung điện, cũng như các công trình tôn giáo, tín ngưỡng, như: gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, gạch hoa sen, gạch chim phượng, tượng vịt, đầu rồng; các loại ngói bò, ngói ống có diềm trang trí hoa sen, hoa thị; cùng nhiều loại bát, đĩa, bình gốm. Tại khu vực chân núi Rùa (phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), đã phát hiện các tượng vịt gắn trên ngói - loại vật liệu dùng để lợp bờ nóc và diềm mái của cung điện Hoa Lư. Đây được xem là cơ sở để nghệ thuật thời Lý kế thừa và phát triển, thể hiện qua các loại gạch hoa sen, chim phượng, tượng vịt trang trí cung điện, cùng các sản phẩm gốm men ngọc, trắng ngà tinh xảo trong Hoàng cung Thăng Long. Đặc biệt, tượng đầu rồng bằng đất nung thế kỷ X, thời Đinh - Tiền Lê được coi là tiền đề cho sự hình thành hình tượng rồng thời Lý uyển chuyển, đạt đến trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao.

Khai quật khảo cổ tại Cố đô Hoa Lư phát hiện nhiều hiện vật kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê

Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh trong Hoàng cung, tại hai kinh đô, các triều vua đã cho xây dựng nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng như: chùa Bà Ngô, chùa Kim Ngân, chùa Diên Ninh, chùa Tháp (ở Hoa Lư); chùa Một Cột, đền Quán Thánh, đền Bạch Mã, đền Voi Phục (ở Thăng Long)…

Ngày nay, tại Cố đô Hoa Lư và khu vực nội thành Hà Nội vẫn còn bảo tồn và phát huy giá trị nhiều Di sản lịch sử - văn hóa có danh xưng tương đồng như: tháp Báo Thiên, chùa Nhất Trụ (Một Cột), chùa Bà Ngô, chùa Am, đình Ngang, cầu Đông, cầu Dền, Đông môn, Tràng Tiền, ngã ba Bồ Đề, cống Chẹm… Những địa danh này cho thấy dấu ấn của Hoa Lư trong không gian Thăng Long (Hà Nội), đồng thời phản ánh sự tương đồng giữa hai kinh đô về vị trí địa lý, cấu trúc thành lũy, kiến trúc cung điện, mô típ trang trí và hệ thống địa danh.

3. Kết luận

Kinh đô Hoa Lư được xem là biểu tượng tiêu biểu của tinh thần tự cường dân tộc, đồng thời là trung tâm chính trị - quân sự có tính chất phòng thủ vững chắc, góp phần quan trọng vào việc củng cố và bảo vệ nền độc lập trong giai đoạn đầu sau khi đất nước giành được quyền tự chủ. Trên nền tảng đó, Thăng Long thể hiện sự kế thừa và phát triển ở tầm cao mới, phản ánh xu thế mở rộng, ổn định lâu dài và tăng cường giao lưu của quốc gia Đại Việt. Kinh thành Thăng Long được quy hoạch với quy mô lớn, vị thế trung tâm, hội tụ các điều kiện thuận lợi về địa lý, chính trị và kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của một quốc gia thống nhất. Trong khi đó, Hoa Lư giữ vai trò như bước chuyển tiếp quan trọng, vừa là căn cứ phòng thủ, vừa là đầu mối giao lưu văn hóa, chính trị, đồng thời đặt nền móng về thể chế và củng cố sự đồng thuận xã hội, tạo tiền đề cho triều Lý thực hiện cuộc chuyển dịch lịch sử.

Sự tương đồng trong tư duy quy hoạch và tổ chức không gian giữa hai kinh đô cho thấy tính liên tục trong truyền thống kiến tạo quốc gia, phản ánh một dòng chảy lịch sử - văn hóa xuyên suốt. Việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long vì vậy không đơn thuần là sự thay đổi về địa điểm, mà còn đánh dấu bước chuyển từ tư duy phòng thủ sang phát triển và hội nhập, phù hợp với yêu cầu của một giai đoạn lịch sử mới.

Như vậy, mối quan hệ giữa Hoa Lư và Thăng Long vừa là sự kế tiếp về mặt niên đại, đồng thời là sự chuyển biến mang tính bước ngoặt, thể hiện tầm nhìn chiến lược và khát vọng xây dựng một quốc gia Đại Việt hùng cường, ổn định và phát triển bền vững.               

                                                                                                                                                                                                                                                        Phòng NC,ST&BT

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

   1. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội các quan bản (Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 - 1697), Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch (1998), tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

   2. Đặng Công Nga (2002), Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê, Sở Văn hóa Thông tin Ninh Bình.

   3. Quốc Sử quán Triều Nguyễn (dịch giả: Viện Sử học) (2007), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

   4. Ngô Thời Sĩ (1960), Việt Sử tiêu án, NXB Văn hóa Á châu, Sài Gòn.

   5. Nguyễn Văn Trò (2002), Cố đô Hoa Lư, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

   6. Tạ Hữu Yên, Lữ Giang, Vũ Bão (1995), Hoa Lư xưa và nay, Huyện uỷ Hoa Lư xuất bản.

   7. Trần Quốc Vượng dịch (2005), Việt Sử lược , NXB Thuận Hóa, Huế.

   8. Viện nghiên cứu Hán Nôm (2018), Đại Việt Sử ký tiền biên, Lê Văn Bảy, Nguyễn Thị Thảo, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và chú thích, NXB Hồng Đức, Hà Nội.

 

Danh sách liên quan