2. NỘI DUNG
2.1. Dấu ấn cư dân bản địa trong quá trình bảo tồn và tái tạo văn bản
Ca cửu khúc được xem là “linh hồn” của phần tế chính thức tại Lễ hội Hoa Lư. “Khúc (曲) có ý nghĩa là khúc nhạc. Cửu khúc (九曲) là 9 khúc nhạc. Như vậy, Tế cửu khúc là nghi thức tế Vua có 9 khúc ca/hát” [1, tr.45]. Qua phân tích 218 câu, chúng tôi nhận thấy dấu ấn của cư dân Hoa Lư hiện lên qua ba phương diện chính sau:
2.2.1. Dấu ấn cư dân bản địa thể hiện qua các địa danh trong không gian sinh sống
Một trong những điểm nổi bật của Ca cửu khúc là việc đưa các địa danh cụ thể trong không gian sinh tồn của cộng đồng vào nội dung lời ca, thay cho những hình ảnh ước lệ thường thấy trong văn chương cổ. Các địa danh thực địa như núi, sông, đền, miếu xuất hiện trong văn bản không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa lịch sử và không gian sinh sống. Người dân khéo léo đặt vùng đất “Tràng An” ngang hàng với các biểu tượng quyền lực tối thượng: “Vầng thái dương như gang tấc đất Tràng An” [1, tr.56]. Đặc biệt, sự đồng nhất “miếu Trường Yên” và “dân Trường Yên” cùng điệp từ trong lời ca “Miếu Trường Yên mà dân cũng Trường Yên” [1, tr.57] đã khẳng định mạnh mẽ bản sắc chủ thể, cho thấy cộng đồng và môi trường sống là một thực thể văn hóa không thể tách rời.
Bên cạnh đó, văn bản còn dẫn dắt cảm xúc người nghe qua các địa danh thân thuộc như “núi Mã Yên”, “sông Hoàng Long”, “núi Trạng Nguyên”, “núi Hòm Sách”. Những hình ảnh như “Núi Mã Yên ngàn bông lau phất gió / Điềm khải thánh Hoàng Long còn mãi đó” [1, tr.60] không chỉ tôn vinh cảnh sắc quê hương mà còn khẳng định niềm tin thiêng liêng: Tiên hoàng vẫn luôn ngự trị ngay trong lòng núi sông quê hương. Đây là dấu ấn tư duy mạnh mẽ của cư dân trong việc ghi danh mảnh đất quê hương vào dòng chảy lịch sử và văn hóa tâm linh của dân tộc.
Dấu ấn bản địa còn thể hiện qua tính thực tế trong lời cầu nguyện, nơi những mong cầu thiết thực của cư dân nông nghiệp được lồng ghép khéo léo bên cạnh việc ca tụng tiền nhân. Thay vì ngôn từ ước lệ, Ca cửu khúc tập trung vào sự ấm no của làng xã với những lời khẩn nguyện như: “Hạnh phúc, ấm no trăm nhà, muôn họ” [1, tr.59] hay “Thần phù độ muôn nhà vui vẻ / Muôn ngàn năm ban phúc lộc dân sinh” [1, tr.61]. Cách dùng từ “trăm nhà”, “muôn họ” khẳng định tư duy cộng đồng; người dân Hoa Lư không cầu xin cho cá nhân mà hướng tới sự ổn định chung của làng xã - tâm thế bắt nguồn từ thực tế nền sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên.
Đặc biệt, hình ảnh “bữa cơm no ấm” trong “Bữa cơm no ấm hồng phúc trời trao, / Đội ơn trên lộc nước dồi dào” [1, tr.59] là nét phác họa chân thực nhất về đời sống nông nghiệp địa phương. Đưa “bữa cơm” vào lời tế vua, dân gian đã cụ thể hóa khái niệm “thái bình” thành những giá trị hiện hữu ngay trong từng nếp nhà, từng vụ mùa bội thu. Đây là dấu ấn nhân văn sâu sắc, khẳng định triết lý lấy sự no ấm của nhân dân làm gốc rễ của mọi nghi lễ tế tự.
Dấu ấn cư dân bản địa không chỉ dừng lại ở những mong cầu dân sinh mà còn vươn tới tầm cao của lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. Điều này thể hiện rõ nét qua việc người dân chủ động đưa vào văn bản những lời khẳng định đanh thép về chủ quyền: “Sông núi nước Nam vua Nam ngự” [1, tr.62]. Việc trích dẫn tinh thần bản tuyên ngôn độc lập thường được coi là đầu tiên của nước ta (“Nam quốc sơn hà”) vào lời ca tế tại Lễ hội Hoa Lư không chỉ tôn vinh lịch sử mà còn góp phần củng cố mạnh mẽ nhận thức cộng đồng về nguồn gốc và bản sắc dân tộc.
Đối với cư dân Trường Yên, việc thờ phụng vua Đinh, vua Lê đã vượt khỏi khuôn khổ hoạt động tâm linh thuần túy, trở thành cách thức bảo vệ ngọn nguồn nền độc lập nước nhà. Trong tâm thức của họ, Cố đô Hoa Lư không chỉ là dấu tích quá khứ mà còn là khởi nguồn vĩnh cửu của kỷ nguyên tự chủ sau nghìn năm Bắc thuộc. Lòng tự tôn ấy được cụ thể hóa qua việc tôn vinh các vị quân chủ ngang hàng với quyền lực tối thượng của vũ trụ, biến quê hương thành vùng đất “địa linh”, bất khả xâm phạm. Chính ý thức tự chủ này đã nâng tầm Ca cửu khúc từ một văn bản nghi lễ thành một bản tuyên ngôn về tinh thần độc lập, mãi vang vọng qua tiếng hát và nhịp trống của những người con vùng đất Cố đô.
Dấu ấn cư dân bản địa không chỉ nằm trên những trang giấy mà còn hiện hữu sinh động qua hình thức diễn xướng. Ca cửu khúc không được đọc theo cách thông thường mà được trình diễn bởi các đào nương (nữ quan) “theo nghệ thuật diễn xướng dân gian (...) vừa hát theo kiểu Ca trù hay hát cửa đình, vừa múa” [1, tr.47]. Chủ thể thực hiện nghi lễ này là những người dân Trường Yên có đạo đức tốt, am hiểu việc tế tự. Họ phải luyện tập và thực hiện các nghi thức chay tịnh nghiêm ngặt trước lễ hội [1, tr.46].
[1] Nay là phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình


Tế cửu khúc tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng - Lễ hội Hoa Lư 2026
Việc lựa chọn loại hình nghệ thuật truyền thống như ca trù làm phương thức diễn xướng trong Ca cửu khúc cho thấy sự tiếp nối và biến đổi linh hoạt của văn hóa dân gian tại địa phương. Đồng thời, sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng cũng góp phần duy trì tính liên tục của di sản. Chính âm vang của tiếng trống cái, sự dìu dặt của tiếng đàn đáy hòa cùng nhịp phách giòn giã của người dân Hoa Lư đã “hồi sinh” văn bản tĩnh, biến nghi lễ thành một trải nghiệm đa giác quan cho người tham dự. Trong không gian linh thiêng đó, người sử dụng trống cái là người am hiểu làu thông nghi thức tế cửu khúc [1, tr. 47], mỗi nhịp gõ của họ không chỉ điều hành nhạc lễ mà còn là nhịp đập tâm hồn của cả cộng đồng. Sự tham gia trực tiếp của các đội tế nam quan, nữ quan (là người bản địa) là minh chứng sống động nhất cho dấu ấn bản địa. Họ không đơn thuần diễn xướng mà họ đang thực sự sống cùng di sản.
Video Tế cửu khúc tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng - Lễ hội Hoa Lư 2026 (Tấu Thuần hòa chi khúc)
3. KẾT LUẬN
Văn bản Ca cửu khúc trong Lễ hội Hoa Lư là một minh chứng điển hình cho vai trò chủ động của cộng đồng trong việc hình thành và phát huy giá trị di sản. Thông qua nội dung và hình thức biểu đạt, văn bản này phản ánh sinh động dấu ấn cư dân địa phương: từ không gian sống, tư duy sản xuất nông nghiệp đến ý thức cộng đồng và lòng tự tôn dân tộc sâu sắc.
Giá trị của Ca cửu khúc vượt xa một nghi lễ thuần túy, trở thành sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, tạo nên một dòng chảy văn hóa liên tục và bền bỉ. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản cần tiếp tục xác định cộng đồng địa phương là vị trí trung tâm, bởi chính họ là chủ thể duy nhất có khả năng sáng tạo và duy trì sức sống cho văn hóa.
Việc nghiên cứu và nhận diện đầy đủ các dấu ấn bản địa trong văn bản không chỉ góp phần làm sáng tỏ giá trị nhân văn của di sản mà còn đặt nền móng cho những phương thức bảo tồn phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững của di sản Cố đô Hoa Lư trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
1. UBND tỉnh Ninh Bình (2015), Kịch bản Lễ hội Trường Yên (Ban hành kèm theo Quyết định số 1291/QĐ-UBND ngày 20/11/2015).
2. Nguyễn Văn Trò (2008), Cố đô Hoa Lư, tái bản lần 4, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
3. Báo Ninh Bình điện tử (02/4/2024), Lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của nghi thức tế Cửu khúc trong Lễ hội Hoa Lư, truy cập tại https://baoninhbinh.org.vn/luu-giu-net-van-hoa-dac-sac-cua-nghi-thuc-te-cuu-khuc-tai le/d20240402210423468.htm.
4. Cổng thông tin điện tử phường Tây Hoa Lư (22/3/2024), Những người lưu giữ, quảng bá nét đẹp văn hóa Cố đô, truy cập tại https://tayhoalu.ninhbinh.gov.vn/van-hoa-xa-hoi/nhung-nguoi-luu-giu-quang-ba-net-dep-van-hoa-co-do-22.html.
Hồng Tâm
Phòng Nghiên cứu, Sưu tầm và Bảo tồn