Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa lư Ninh Bình

MỘT TƯ LIỆU QUÝ VỀ LÀNG XÃ THỜI NGUYỄN: VĂN BIA PHÚC LỘC NỘI THÔN (福 祿 内 村)

Thứ hai, 27/7/2026 , Đã xem: 93
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 40 điểm ( 8 đánh giá )

MỘT TƯ LIỆU QUÝ VỀ LÀNG XÃ THỜI NGUYỄN: VĂN BIA PHÚC LỘC NỘI THÔN ( 祿 )

 

I. MỞ ĐẦU

Trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, bia đá là một loại hình mang tính đặc thù, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn hóa - nghệ thuật. Từ lâu, bia đá đã được coi là “những trang sử bằng đá, ghi lại những dấu mốc quan trọng của cộng đồng, của một vùng đất, một di tích, đồng thời phản ánh quan niệm thẩm mỹ và khả năng sáng tạo nghệ thuật của các thế hệ tiền nhân. Mỗi Văn bia không chỉ cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật mà còn phản ánh đời sống xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán của người Việt qua từng giai đoạn lịch sử.

Thời Nguyễn (1802-1945) là một giai đoạn chứng kiến sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật bia đá. Các bia thời kỳ này thường có kích thước lớn, công phu, chú trọng sự cân đối, tính đối xứng và sự tinh xảo trong từng chi tiết hoa văn. Không chỉ dừng lại ở chức năng ghi chép, bia đá thời Nguyễn còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa, phản ánh sự dung hòa giữa truyền thống bản địa với những ảnh hưởng ngoại lai, qua đó tạo nên bản sắc độc đáo của người Việt.

Trong dòng chảy di sản ấy, Văn bia Phúc Lộc Nội thôn bi ký (1876) hiện còn lưu giữ tại khu vực đền Lê Đại Hành, Khu Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (thuộc phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) là một hiện vật có giá trị đáng chú ý. Văn bia vừa có giá trị tư liệu lịch sử, vừa hàm chứa nhiều yếu tố văn hóa - nghệ thuật đặc sắc, đồng thời đặt ra những câu hỏi thú vị về địa danh, con người và truyền thuyết dân gian gắn liền với nó.

II. NỘI DUNG

1. Hình thức và trang trí

Bia được tạo tác năm Tự Đức 29 (1876), với kích thước R 0.80m, Cao 1,20m, dày 0,22m. Văn bia gồm 19 dòng, 98 chữ Hán, khắc kín 1/3 phần thân bia, 2/3 thân họa tiết trang trí là hình Voi chầu. Voi trong quan niệm phương Đông là linh vật mang sức mạnh, trí tuệ và đức hạnh, đồng thời tượng trưng cho sự cát tường, may mắn. Sự xuất hiện của Voi trong trang trí bia đá không chỉ mang ý nghĩa bảo hộ linh thiêng mà còn phản ánh tư duy biểu tượng phong phú của người xưa.

2. Nội dung khắc trên văn bia

2.1. Nguyên văn chữ Hán

祿

村長: , , , .

簿: .

: .

: .

: . ; !

: .

:

:           

:

.

2.2. Phiên âm

Phúc Lộc nội thôn

Tự Đức nhị thập cửu niên, tuế thứ Bính Tý, quý thu nguyệt, trung cán cát nhật trùng tu miếu vũ. Thôn trưởng: Phạm Kim Đôi, Phạm Văn Tề, Nguyễn Văn Phái, Phạm Văn Ba. Thủ bạ: Phạm Văn Cảnh. Câu đương: Nguyễn Văn Ô. Hộ chủ: Phạm Kim Đôi. Cán trương: Nguyễn Văn Tuy, Phạm Đức Hậu. Tiến cúng dĩ hạ! Phạm Đức Hậu: cúng thạch trụ nhị trụ. Phạm Văn Sản: cúng thạch trụ nhị trụ. Phạm Văn Mẫn: cúng tiền            ngũ quan. Mộc tượng: Nguyễn Thế Hệ.  Thừa tả: Phạm Dương Nguyên ký.

2.3. Dịch nghĩa

Văn bia thôn Nội Phúc Lộc.

Ngày tốt trung tuần tháng cuối thu, năm Bính Tý, niên hiệu Tự Đức năm thứ 29 (1876), sửa lại đền miếu.

Bia ghi danh những người có công trong việc tu sửa miếu:

Các vị trưởng thôn: Phạm Kim Đôi, Phạm Văn Tề, Nguyễn Văn Phái, Phạm Văn Ba.

Thủ bạ: Phạm Văn Cảnh

Câu đương: Nguyễn Văn Ô

Hộ chủ: Phạm Kim Đôi

Cán trương: Nguyễn Văn Tuy, Phạm Đức Hậu.

Những người tiến cúng tiền của để tu sửa đền có tên dưới đây:

Phạm Đức Hậu cúng 2 cột đá

Phạm Văn Sản cúng 2 cột đá

Phạm Văn Mẫn cúng 5 quan tiền.

Thợ mộc là Nguyễn Thế Hệ.

Người viết chữ là Phạm Dương Nguyên.

Ảnh: Văn bia Phúc Lộc Nội thôn

2.4. Một số nhận xét từ nội dung văn bia

Thứ nhất, về nguồn gốc văn bia: Theo tư liệu năm 1991, tấm bia hiện đặt trong cổng đền vua Lê (Khu di tích lịch sử- văn hoá Cố đô Hoa Lư), nhưng vốn không phải của đền. Bia được đưa từ phủ Tùng Xẻo (TDP Yên Trạch, Tây Hoa Lư) về, sau khi phủ bị hạ giải trong thời kỳ hợp tác xã những năm 1960. Điều này cho thấy sự di chuyển, tái sử dụng hoặc bảo lưu bia đá tại địa phương vốn khá phổ biến, gắn với biến động lịch sử - xã hội.

Truyền thuyết phủ Tùng Xẻo:

Tên gọi “Tùng Xẻo” gắn liền với câu chuyện dân gian về cái chết thảm khốc của Đỗ Thích - kẻ đã sát hại vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn (979). Theo truyền thuyết, hắn bị xử tử bằng cực hình: mỗi tiếng trống “tùng” vang lên thì đao phủ dùng dao cùn xẻo thịt hắn một lần, máu chảy ra lại bị xát muối, cho đến khi chết trong đau đớn. Sau này, dân lập miếu thờ gọi là phủ Tùng Xẻo. Dù chưa có tài liệu chính thống xác nhận, truyền thuyết này phản ánh ký ức cộng đồng về một sự kiện bi thương trong lịch sử, đồng thời lý giải sự tồn tại của di tích gắn với văn bia.

Thứ hai, xưa nay không có thôn nào trong xã hoặc tổng Trường Yên cũ có tên thôn Nội Phúc Lộc cả, và hiện tại trong tỉnh Ninh Bình có ba nơi mang tên Phúc Lộc, đó là thôn Phúc Lộc xã Quỳnh Lưu, phố Phúc Lộc phường Hoa lư, làng Phúc Lộc phường Nam Hoa Lư đều thuộc tỉnh Ninh Bình. Thôn Nội Phúc Lộc ghi trong bia không biết thuộc nơi nào nói trên đây, hay nơi nào khác nữa? Có một câu hỏi đặt ra là nhiều người có tên trong văn bia mang họ Phạm, vì thế phải chăng là thôn Phúc Lộc của phường Nam Hoa Lư, nơi có nhiều người họ Phạm?

Thứ ba, Thủ bạ: người được giao giữ sổ sách giấy tờ của làng xã thời phong kiến thực dân.

Thứ tư,  Câu đương: người đến vai phải liệu biện việc công của làng xã thời phong kiến thực dân.

Thứ năm, Cán trương: chưa rõ nghĩa, nhưng là người giữ một công việc nào đó trong làng xã ngày xưa.

3. Giá trị của văn bia

3.1. Giá trị lịch sử - văn hóa

Văn bia Phúc Lộc Nội thôn (1876) trước hết là một sử liệu quan trọng phản ánh bức tranh tổ chức và sinh hoạt của làng xã Việt Nam thời Nguyễn. Niên đại được ghi rõ “Tự Đức nhị thập cửu niên, tuế thứ Bính Tý” xác lập thời điểm tu bổ đền miếu vào năm 1876, cung cấp mốc xác thực để nghiên cứu lịch sử làng xã cuối thế kỷ XIX. Danh sách chức dịch trong bia như Trưởng thôn, Thủ bạ, Câu đương, Hộ chủ, Cán trương thể hiện rõ cơ cấu quản lý của cộng đồng, cho thấy sự phân công rành mạch trong việc điều hành công việc công và nghi lễ tín ngưỡng. Bia còn ghi cụ thể những người công đức với hiện vật và tiền bạc, cũng như tên thợ mộc và người viết chữ, phản ánh cơ chế huy động nguồn lực công khai, minh bạch và vai trò của thủ công nghiệp trong hoạt động trùng tu.

Đây là một minh chứng sinh động cho mối liên kết bền chặt giữa tín ngưỡng, đời sống kinh tế và cấu trúc xã hội truyền thống. Đồng thời, hành trình di chuyển bia từ phủ Tùng Xẻo về đền Lê sau những biến động thế kỷ XX cho thấy dấu vết lịch sử của di tích, cũng như cách cộng đồng gắn kết ký ức lịch sử (truyền thuyết về Đỗ Thích và tục “tùng xẻo”) với không gian tín ngưỡng. Như vậy, văn bia không chỉ là một văn bản ghi chép sự kiện mà còn là nguồn sử liệu giàu giá trị, giúp tái dựng diện mạo tổ chức làng xã, cơ chế công đức, mạng lưới nghề thủ công và ký ức cộng đồng ở vùng đất Ninh Bình.

3.2. Giá trị nghệ thuật

Bên cạnh giá trị sử liệu, “Phúc Lộc Nội thôn”  còn tiêu biểu cho nghệ thuật bia đá thời Nguyễn với sự trau chuốt trong bố cục, đường nét và biểu tượng. Tấm bia có kích thước 0,8m ×1,2m, dày 0,22 m, phần văn khắc gồm 19 dòng, 98 chữ chiếm khoảng 1/3 thân bia, còn lại dành cho trang trí và tạo thế cân đối, phù hợp với thẩm mỹ nghiêm cẩn của thời Nguyễn. Đặc biệt, thân bia chạm khắc hình Voi chầu - biểu tượng của sức mạnh, trí tuệ, phẩm hạnh và cát tường trong văn hóa phương Đông vừa mang ý nghĩa bảo hộ linh thiêng vừa làm điểm nhấn cho toàn bộ bố cục. Hình tượng Voi chầu, cùng với bố cục đối xứng và lối khắc tinh xảo, thể hiện rõ tinh thần nghệ thuật của thời kỳ này. Ngoài ra, việc nêu tên người viết chữ cho thấy thư pháp Hán văn được xem trọng như một thành tố nghệ thuật, bổ sung vào tính tổng hợp của tác phẩm. Như vậy, bia không chỉ dừng lại ở giá trị nội dung mà còn là một sáng tác nghệ thuật hoàn chỉnh, kết tinh tay nghề điêu khắc, thư pháp và sự phối hợp nhiều nghề thủ công, xứng đáng là một di sản tiêu biểu cho phong cách bia đá thời Nguyễn.

III. Kết luận

Phúc Lộc Nội thôn (1876) không chỉ là một văn bản ghi chép việc trùng tu đền miếu mà còn là một di sản chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa. Ở phương diện lịch sử - văn hóa, bia ghi lại mốc thời gian, cơ cấu quản lý, hoạt động công đức và sự tham gia của cộng đồng trong việc duy trì thiết chế tín ngưỡng, qua đó phản ánh bức tranh sinh hoạt làng xã Việt Nam dưới triều Nguyễn. Ở phương diện nghệ thuật, tác phẩm thể hiện rõ đặc trưng thẩm mỹ của bia đá thời Nguyễn với bố cục cân đối, đường nét tinh xảo và biểu tượng Voi chầu mang đậm tính linh thiêng. Hành trình dịch chuyển của văn bia cùng với truyền thuyết dân gian còn cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa ký ức cộng đồng và không gian tín ngưỡng. Có thể khẳng định rằng, Phúc Lộc Nội thôn là một chứng tích quan trọng giúp nghiên cứu đời sống xã hội, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XIX, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của văn bia trong việc lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc.

Kim Cúc

 

Danh sách liên quan